Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
những điều kiện tín dụng một cách tốt nhất. Và như vậy vốn được giao cho
người sử dụng có hiệu quả nhất. Bằng cách đó, tín dụng góp phần vào việc
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh doanh của xã hội.
1.1.2. Phân loại tín dụng.
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa
trên một số tiêu thức nhất định. Sau đây là một số tiêu thức cơ bản:
1.1.2.1. Theo thời hạn tín dụng.
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả dưới 1 năm, được
sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu
cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả từ một năm đến
dưới 5 năm, được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi
mới thiết bị công nghệ mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới
có quy mô nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh và là nguồn hình thành vốn lưu
động thường xuyên của các doanh nghiệp. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay
trung hạn để đầu tư vào các đối tượng như máy cày, máy bơm nước, xây dựng
các vườn cây công nghiệp.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả trên 5 năm được sử
dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng xí nghiệp mới, các
công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay ), cải tiến mở
rộng với quy mô lớn.
1.1.2.2. Theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành:
Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam
kết khách hàng hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Các
hình thức cho vay mà ngân hàng có thể thực hiện để cấp tín dụng cho khách
hàng gồm: thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay
luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp.
Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách
hàng tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để
sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một giấy nợ .
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
5
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
Cho thuê tài sản: Hoạt động chủ yếu của NHTM (ngân hàng thương
mại) là cho vay để khách hàng mua tài sản. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp
khách hàng không đủ điều kiện vay, NHTM sẽ mua tài sản theo yêu cầu của
khách hàng để cho họ thuê. Cho thuê có hai hình thức là cho thuê hoạt động và
cho thuê tài chính.
Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên có
quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận
bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được
trả thay. Nếu phân theo mục tiêu bảo lãnh gồm các loại sau: bảo lãnh dự thầu,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo đảm hoàn trả tiền ứng trước, bảo
lãnh hoàn trả vốn vay, bảo lãnh đảm bảo thanh toán.
1.1.2.3. Theo mức độ tín nhiệm
+ Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo hoặc người
bảo lãnh đứng ra bảo đảm cho khoản tiền vay.
+ Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là hình thức tín dụng không có tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ
dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
1.1.2.4. Theo xuất xứ tín dụng
Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng mà theo đó ngân hàng sẽ cung cấp
vốn trực tiếp cho người có nhu cầu sử dụng vốn đồng thời người vay trực tiếp
hoàn trả nợ ngân hàng. Mức độ rủi ro của ngân hàng trong trường hợp này thấp
vì tận dụng được trình độ của CBTD (cán bộ tín dụng) khi mà họ trực tiếp làm
việc với người vay để xem xét trước khi quyết định cho vay.
Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không trực
tiếp cung cấp vốn cho người có nhu cầu vay vốn mà là mua lại các khế ước
hoặc chứng từ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Ngoài ra còn có những tiêu thức phân loại khác như:
- Theo đối tượng tín dụng thì có tín dụng vốn lưu động, tín dụng vốn cố
định.
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
6
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
- Theo mục đích tín dụng có tín dụng bất động sản, tín dụng nông nghiệp, tín
dụng các định chế tài chính, tín dụng cá nhân, cho thuê.
- Theo phương pháp hoàn trả có tín dụng không có thời hạn cụ thể, tín dụng
có thời hạn.
1.1.3. Vai trò của tín dụng.
1.1.3.1. Đối với ngân hàng:
Mặc dù NHTM hoạt động kinh doanh đa năng, nhưng tín dụng là hoạt
động chủ yếu chiếm khoảng 60% nguồn vốn của ngân hàng và do vậy lợi
nhuận từ hoạt động tín dụng cũng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thu nhập của
các ngân hàng ở nước ta hiện nay.
1.1.3.2. Đối với khách hàng:
Mọi dịch vụ cung cấp ra thị trường đều phải thỏa mãn một hay nhiều nhu
cầu nào đó của khách hàng và hoạt động tín dụng cũng không phải là ngoại lệ,
nó thỏa mãn nhu cầu về phương diện thanh toán của khách hàng. Trong giai
đoạn hiện nay nhu cầu đó ngày càng gia tăng. Đặc biệt là đối với những nhu
cầu cấp thiết mà không có nguồn thanh toán hoặc không có vốn thì sẽ gây thiệt
hại cho khách hàng nói riêng và cho nền kinh tế nói chung.
1.1.3.3. Đối với nền kinh tế và xã hội:
a, Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội.
Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời
cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ
đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu
thụ sản phẩm. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu
tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội. Các nguồn vốn tín dụng được
cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi
ro lựa chọn đối nghịch buộc những người đi vay phải quan tâm thực sự đến
hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung
ứng tín dụng.
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
7
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
b, Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô.
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh
tế và tạo công ăn việc làm. Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài
hòa phụ thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời
hạn cũng như đối tượng tín dụng. Vấn đề này, đến lượt nó lại phụ thuộc vào
các điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh
và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng
thời kỳ. Như vậy thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng,
nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của
nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về
quy mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính
sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất
khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu sẽ cho phép đạt
được các mục tiêu vĩ mô cần thiết.
c, Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội
Các chính sách xã hội về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ
không hoàn lại từ ngân sách nhà nước. Song phương thức tài trợ này thường bị
hạn chế về quy mô, thiếu hiệu quả và có xu hướng bị thay thế bởi phương thức
tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có
điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách. Thông qua phương thức tài trợ
này, các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả
hơn.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1.2.1. Quan niệm về chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
(người vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo sự tồn tại
phát triển của ngân hàng. Như vậy, CLTD (chất lượng tín dụng) là một khái
niệm vừa cụ thể (thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận, nợ quá hạn, RRTD- rủi ro tín
dụng ….), vừa mang tính trừu tượng (thể hiện trong việc thu hút khách hàng,
khả năng cạnh tranh….). Do đó ngân hàng nào hiểu đúng được bản chất của
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
8
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
CLTD sẽ giành được thắng lợi trong hoạt động kinh doanh và đứng vững trong
nền kinh tế thị trường. Chất lượng tín dụng thể hiện trên nhiều khía cạnh:
Đối với bản thân ngân hàng: CLTD được hiểu ở phạm vi, mức độ, giới hạn
TD phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính
cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi, hạn chế
đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, mang lại lợi nhuận và đảm
bảo thanh khoản cho ngân hàng. Bởi hoạt động tín dụng là hoạt động truyền
thống, là chức năng cơ bản của NHTM. Thu nhập từ hoạt động tín dụng là thu
nhập chính của ngân hàng chiếm khoảng 60% tổng thu nhập. Tuy nhiên rủi ro
trong lĩnh vực này cũng rất cao. Vì vậy hoạt động tín dụng lành mạnh có chất
lượng và hiệu quả cao đảm bảo duy trì hoạt động của ngân hàng góp phần lành
mạnh hệ thống ngân hàng.
Đối với khách hàng: CLTD thể hiện ở chỗ tín dụng phát ra phải có một
mức lãi suất hợp lý để khách hàng không phải chịu giá cao và kỳ hạn hợp lý để
tiện cho kế hoạch sử dụng vốn vay và trả nợ cho ngân hàng, thủ tục đơn giản
và thuận tiện cho khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm
bảo được nguyên tắc tín dụng.
Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: CLTD là sự phục vụ đáp ứng nhu cầu
sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai
thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín
dụng.
Chất lượng tín dụng là một thuật ngữ phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng
của NHTM chất lượng tín dụng chỉ được đánh giá sau khi khách hàng đã sử
dụng một khoản tín dụng nào đó. Chất lượng tín dụng được cấu thành bởi hai
yếu tố là mức độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động tín
dụng mang lại:
Thứ nhất, mức độ an toàn tín dụng: RRTD được định nghĩa là khoản lỗ
tiềm tàng vốn có khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Rủi ro tín dụng phát
sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
9
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn tại thời
điểm ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và chấp nhận giấy nhận nợ của
khách hàng. Nâng cao CLTD giúp ngân hàng phân tán cũng như giảm thiểu
được tới mức thấp nhất rủi ro tín dụng.
Thứ hai, khả năng sinh lời của ngân hàng do các khoản tín dụng mang lại:
Tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho các NHTM, vì vậy CLTD
đóng vai trò quyết định đến khả năng sinh lời cho các ngân hàng.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá
Chất lượng tín dụng là một phạm trù hết sức phức tạp và trừu tượng. Do
đó để đánh giá được CLTD một cách chính xác tương đối người ta phải dựa
vào những tiêu thức nhất định. Thực tế người ta vẫn thường sử dụng các chỉ
tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng sau:
1.2.2.1. Chỉ tiêu định tính
a, Uy tín của ngân hàng
Cạnh tranh là quy luật tự nhiên, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường. Để tồn tại và phát triển
các ngân hàng phải chấp nhận canh tranh như sự lựa chọn tất yếu. Trong cùng
một môi trường như nhau, các ngân hàng phải tận dụng được những ưu thế của
mình để vượt lên trên đối thủ cạnh tranh, khẳng định vị trí của mình trong nền
kinh tế. Nếu một ngân hàng có uy tín thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng và
khi đó số khách hàng có chất lượng, làm ăn uy tín sẽ tăng. Đó là một dấu hiệu
cho thấy CLTD khả quan.
b, Tín dụng ngân hàng phải đảm bảo góp phần vào sự tăng trưởng, phát triển
kinh tế tại địa phương và khả năng tạo việc làm cho nguồn nhân lực xã hội.
Xuất phát từ vai trò của tín dụng ngân hàng như đã được đề cập ở trên,
việc nâng cao CLTD sẽ góp phần vào việc đổi mới nền kinh tế quốc dân nói
chung và nền kinh tế gia đình nói riêng. Đây là hệ quả tất yếu khi cả khách
hàng và ngân hàng hoạt động có hiệu quả. Chất lượng tín dụng được coi là tốt
khi nó góp phần nâng cao năng lực sản xuất cho doanh nghiệp, giải quyết công
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
10
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân cư, thể hiện ở sự ổn định
của nền tài chính tiền tệ quốc gia.
c, Việc chấp hành tốt pháp luật, các chỉ đạo của nhà nước, của ngành cũng
như tuân thủ triệt để các nguyên tắc cho vay của ngân hàng đảm bảo sự tồn tại
và phát triển.
Để CLTD tốt không chỉ phụ thuộc riêng vào ngân hàng mà nó phụ thuộc
rất lớn vào khách hàng vay vốn. Một khoản tín dụng được coi là có hiệu quả
khi các nguyên tắc cho vay được tuân thủ triệt để.
1.2.2.2. Chỉ tiêu định lượng
a, Tổng dư nợ
Tổng dư nợ là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền
kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung
hạn và dài hạn. Tổng dư nợ càng cao thể hiện quy mô ngân hàng lớn vì ngân
hàng có lớn mới có cơ hội mở rộng quy mô tín dụng. Và ngược lại, tổng dư nợ
thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng yếu kém, không có khả năng
mở rộng khách hàng, khả năng tiếp thị của ngân hàng chưa tốt, trình độ CBTD
thấp…Mặc dù vậy chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt bởi
nếu cứ có khách hàng là ngân hàng cho vay thì sẽ làm quy mô TD tăng lên
nhưng chất lượng không đảm bảo rất dễ dẫn đến rủi ro mất vốn từ đó ảnh
hưởng tới kết quả kinh doanh. Song nếu tổng DN tăng liên tục qua các năm thì
lại cho thấy chiều hướng tăng lên của CLTD.
b, Tỷ lệ nợ
Theo quyết định số 493/2005/QĐ/NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của
Thống đốc NHNN Việt Nam về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để
xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của các TCTD (Tổ chức tín dụng) và
quyết định 18/2007/QĐ – NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt
động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ/NHNN
thì TCTD thực hiện phân loại nợ theo năm nhóm như sau: nhóm 1 (nợ đủ tiêu
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
11
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
chuẩn), nhóm 2 (nợ cần chú ý), nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi
ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Thứ nhất, tỷ lệ nợ quá hạn
Theo quyết định 493/2005/QĐ/NHNN - “Nợ quá hạn” là khoản nợ mà
một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn, như vậy nợ quá hạn của
ngân hàng bao gồm nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5. Nợ quá hạn xuất hiện do nhiều
nguyên nhân, có thể là do ngân hàng không xem xét kỹ khoản vay, đánh giá
không chính xác thời gian sử dụng vốn cần thiết của khách hàng, có thể do
khách hàng gặp khó khăn tạm thời trong việc kinh doanh vì môi trường kinh
doanh không thuận lợi hay khách hàng cố tình không trả nợ cho ngân hàng …
Tỷ lệ nợ quá hạn thường được xác định vào một thời điểm nhất định trong
năm.
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ quá
hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn thể hiện khả năng dư nợ của ngân hàng đến đâu, tỷ lệ nợ
quá hạn càng cao thì ngân hàng càng gặp nhiều khó khăn hơn, mặc dù ngân
hàng chưa gặp rủi ro mất vốn nhưng khả năng cung ứng vốn cho khách hàng
khác bị hạn chế. Không những thế nó còn ảnh hưởng đến khả năng thanh
khoản và ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của ngân hàng từ đó làm cho chi
phí cơ hội của ngân hàng tăng lên.
Thứ hai, tỷ lệ nợ xấu
Theo quyết định 493/2005/QĐ/NHNN - “Nợ xấu” là khoản nợ thuộc các
nhóm 3, 4 và 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng DN là tỷ lệ rất quan trọng để đánh giá
chất lượng tín dụng của TCTD.
Nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
Tổng dư nợ
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
12
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
Tỷ lệ này cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Nợ
xấu có độ rủi ro rất cao, khả năng thu hồi vốn là tương đối khó, khoản vay của
ngân hàng lúc này không còn là rủi ro nữa mà đã gây thiệt hại cho ngân hàng.
Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao chứng tỏ CLTD của ngân hàng là rất thấp
và lúc này phải xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của mình nếu không sẽ
không lường trước được hậu quả có thể xảy ra.
Thứ ba, tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi
Theo quyết định 493/2005/QĐ/NHNN – nợ không có khả năng thu hồi
chính là nợ nhóm 5
Nợ nhóm 5
Tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi =
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này cho biết trong một đồng tổng dư nợ của ngân hàng có bao nhiêu
đồng là nợ có khả năng mất vốn. Một ngân hàng luôn đặt ra mục tiêu không có
nợ có khả năng mất vốn, tuy nhiên điều này rất khó thực hiện trong thực tế do
hoạt động này luôn tiềm ẩn những rủi ro rất lớn mà khó có thể lường hết được.
Tỷ lệ này càng cao thì CLTD của ngân hàng càng thấp, nguy cơ ngân hàng
không thu hồi đủ số nợ gốc, tổn thất đối với ngân hàng rất cao.
c, Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo
cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí
hoạt động của TCTD. Hiện tại thì các ngân hàng thực hiện trích lập dự phòng
RRTD theo quyết định 18/2007/QĐ – NHNN và Quyết định số 493/2005/QĐ –
NHNN. Khi tỷ lệ trích lập dự phòng tăng thì cho thấy CLTD tại ngân hàng
đang có dấu hiệu giảm sút và ngược lại.
d, Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
13
Khóa luận tốt nghiệp Học Viện Ngân Hàng
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của một ngân hàng
tức là nó thể hiện khả năng thu hồi vốn của ngân hàng cao hay thấp, chất lượng
quản lý vốn tín dụng tốt hay xấu. Vốn tín dụng quay được một vòng tức là tính
từ thời điểm cấp tín dụng đến thời điểm thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi đến
hạn như trong hợp đồng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn
vốn vay ngân hàng luân chuyển càng nhanh, được sử dụng để tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hóa. Với một số vốn nhất định, vòng
quay vốn tín dụng nhanh, ngân hàng có thể tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực khác để
kiếm lời. Vòng quay vốn tín dụng cao chứng tỏ khả năng quản lý vốn tín dụng
cũng như CLTD của ngân hàng tốt.
e, Hiệu suất sử dụng vốn vay
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn vay =
Tổng nguồn vốn huy động
Tỷ lệ này cho biết trong một đồng vốn huy động được thì có bao nhiêu
đồng được ngân hàng sử dụng để cho vay và nó phản ánh quy mô, khả năng
tận dụng nguồn vốn trong cho vay của các ngân hàng. Qua chỉ tiêu này cho ta
biết sự phù hợp giữa nguồn huy động vốn và cho vay, một khi hiệu suất sử
dụng vốn của ngân hàng chưa ngang tầm với công tác huy động vốn sẽ gây ảnh
hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng, cho thấy vốn bị ứ đọng không có
khả năng sinh lời điều này cũng có thể là do ngân hàng không muốn mở rộng
quy mô tín dụng trong khi quy mô huy động vốn tăng lên, cũng có thể là không
thu hút được khách hàng đến vay vốn.
f, Chỉ tiêu mức sinh lời
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Tỷ lệ mức sinh lời =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, nó cho
biết một đồng tín dụng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này cao cho thấy
việc sử dụng đồng vốn có hiệu quả thể hiện ở việc thu nhập từ hoạt động tín
Đinh Thị Thanh
NHGK8- Khoa Ngân H ngà
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét