Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công tyTNHH NISSEI ELECTRIC HÀ NỘI.docx

Chuyên đề tốt nghiệp :Phân tích - nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số tuyệt đối phản ánh quy mô đầu ra của
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh. Trong quá trình
sản xuất kinh doanh thì kết quả cần đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh
nghiệp. Kết quả bằng chỉ tiêu định lượng như số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi
nhuận và cũng có thể phản ánh bằng chỉ tiêu định tính như uy tín, chất lượng sản phẩm.
Xét về bản chất hiệu quả và kết quả khác hẳn nhau. Kết quả phản ánh quy mô còn
hiệu quả phản ánh sự so sánh giữa các khoản bỏ ra và các khoản thu về. Kết quả chỉ cho ta
thấy quy mô đạt được là lớn hay nhỏ và không phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất
kinh doanh. Có kết quả mới tính đến hiệu quả. Kết quả dùng để tính toán và phân tích hiệu
quả trong từng kỳ kinh doanh. Do đó kết quả và hiệu quả là hai khái niệm khác hẳn nhau
nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
1.1.3 Bản chất hiệu quả sản xuất kinh doanh
Theo nghĩa tổng quát thì hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ quản lý,
đảm bảo thực hiện có kết quả cao về nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất.
Phạm trù kinh tế được hiểu trên hai góc độ đó là định tính và định lượng.
Về định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội
biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra. Nếu xét tổng hợp thì
người ta chỉ thu lại được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu về lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh
lệch càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế thu được phản ánh trình độ năng lực
quản lý sản xuất kinh doanh.
Hai mặt định tính và định lượng của hiệu quả kinh doanh không được tách rời
nhau.
Hiệu quả kinh tế không đồng nhất với kết quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế là phạm trù
so sánh, thể hiện mối quan tâm giữa cái bỏ ra và cái thu về. Kết quả chỉ là yếu tố cần thiết
để phân tích đánh giá hiệu quả tự bản thân mình, kết quả chưa thể hiện được nó tạo ra ở
mức độ nào và chi phí nào, có nghĩa riêng kết quả chưa thể hiện được chất lượng tạo ra nó.
Bản chất hiệu quả kinh tế là thể hiện mục tiêu phát triển kinh tế và các hoạt động
sản xuất kinh doanh , tức là thoả mãn tốt hơn nhu cầu của thị trường. Vì vậy nói đến hiệu
quả là nói đến mức độ thoả mãn nhu cầu với việc lựa chọn và sử dụng các nguồn lực có
giới hạn tức là nói đến kết quả kinh tế trong việc thoả mãn nhu cầu.
Tóm lại: Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất xã hội và toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh khác là một yêu cầu cơ bản nhất của mục tiêu phát triển.
6
Chuyên đề tốt nghiệp :Phân tích - nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.4 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả là một phạm trù lớn mang tính tổng hợp vì vậy trong việc tiếp cận, phân
tích và đánh giá chỉ tiêu này cần nhận thức rõ về tính đa dạng các chỉ tiêu hiệu quả và phân
loại các chỉ tiêu hiệu quả theo các căn cứ sau:
Căn cứ theo yêu cầu tổ chức xã hội và tổ chức quản lý kinh tế của các cấp quản lý
trong nền kinh tế quốc dân: Phân loại hiệu quả theo cấp hiệu quả của ngành nghề, tiềm lực
và theo những đơn vị kinh tế bao gồm:
• Hiệu quả kinh tế quốc dân , hiệu quả kinh tế vùng (Địa phương)
• Hiệu quả kinh tế sản xuất xã hội khác.
• Hiệu quả kinh tế khu vực phi sản xuất (Giáo dục, y tế )
• Hiệu quả kinh tế Doanh nghiệp (Được quan tâm nhất)
Căn cứ vào nội dung và tính chất của các kết quả nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng
của mục tiêu, người ta phân biệt hiệu quả kinh tế và các loại hiệu quả khác.
• Hiệu quả kinh tế.
• Hiệu quả xã hội.
• Hiệu quả kinh tế - xã hội.
• Hiệu quả kinh doanh.
Trong các loại hiệu quả trên, chúng ta quan tâm đến hiệu quả kinh doanh vì hiệu
quả kinh doanh gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cũng là
đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đối với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp lại được chia ra:
• Hiệu quả kinh doanh tổng hợp
• Hiệu quả kinh doanh bộ phận.
HIệu quả kinh doanh tổng hợp phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả
kinh doanh của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (hay một đơn vị
bộ phận của doanh nghiệp). trong một thời kỳ xác định.
Hiệu quả kinh doanh bộ phận là hiệu quả kinh doanh chỉ xét ở từng lĩnh vực hoạt
động cụ thể của doanh nghiệp (sử dụng từng loại tài sản, nguyên vật liệu, hoạt động kinh
doanh chính, liên doanh liên kết ). Nó phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực cụ thể, không
phản ánh hiệu quả của từng doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn được chia ra theo tiêu thức thời gian:
• Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn.
• Hiệu quả kinh doanh dài hạn.
Hiệu quả kinh doanh ngắn hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét, đánh giá ở
từng khoảng thời gian ngắn như tuần, tháng, quý, năm, vài năm…
Hiệu quả kinh doanh dài hạn là hiệu quả kinh doanh được xem xét đánh giá trong
khoảng thời gian dài gắn với các chiến lược, kê hoạch dài hạn, thậm chí người ta còn nói
đến hiệu quả kinh doanh lâu dài ngắn với quãng đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Giữa hiệu quả kinh doanh dài hạn và ngắn hạn có mối quan hệ biện chứng với nhau
và trong nhiều trường hợp còn mâu thuẫn với nhau. Đôi khi vì mục tiêu hiệu quả trong dài
hạn mà người ta có thể hy sinh hiệu quả trong ngắn hạn, chẳng hạn như xem xét đối với
các tập đoàn bán lẻ nổi tiếng trên thế giới đang thâm nhập vào thị trường Việt Nam như
METRO (Carh&Carry) và BIG C (Big Coral).
1.1.5 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh
Sự cần thiết khách quan: Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị
trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lãi. Để đạt được kết quả
cao nhất trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần xác định phương hướng mục iêu
trong đầu tư. Muốn vậy cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng của
từng nhân tố đến kết quả kinh doanh. Điều này chỉ thực hiện trên cơ sở phân tích kinh
doanh.
Thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, sự tích tụ cơ bản dẫn đến sự tích tụ sản xuất, các Công
ty ra đời sản xuất phát triển cực kỳ nhanh chóng cả về quy mô lẫn hiệu quả, với sự cạnh
tranh gay gắt và khốc liệt. Để chiến thắng trong cạnh tranh, đảm bảo quản lý tốt các hoạt
động của Công ty đề ra phương án giải pháp kinh doanh có hiệu quả, nhà tư bản nhận
thông tin từ nhiều nguồn, nhiều loại và yêu cầu độ chính xác cao. Với đòi hỏi này công tác
hạch toán không thể đáp ứng được vì vậy cần phải có môn khoa học phân tích kinh tế độc
lập với nội dung phương pháp nghiên cứu phong phú.
Ngày nay với những thành tự to lớn về sự phát triển kinh tế – Văn hoá, trình độ
khoa học kỹ thuật cao thì phân tích hiệu quả càng trở lên quan trọng trong quá trình quản
8
Chuyên đề tốt nghiệp :Phân tích - nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
lý doanh nghiệp bởi nó giúp nhà quả lý tìm ra phương án kinh doanh có hiệu quả nhất về
Kinh tế0- Xã hội – Môi trường.
Trong nền kinh tế thị trường để có chiến thắng đòi hỏi các doanh nghiệp phải
thường xuyên áp dụng các tiến bộ khoa học, cải tién phương thức hoạt động, cải tiến tổ
chức quản lý sản xuất và kinh doanh nhằm nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả.
Tóm lại: Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giúp cho nhà quản lý đưa ra
những quyết định về sự thay đổi đó, đề ra những biện pháp sát thực để tăng cường hoạt
động kinh tế và quản lý doanh nghiệp nhằm huy động mọi khả năng tiềm tàng về vốn, lao
động, đất đai vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đối với nền kinh tế quốc dân: hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế quan trọng,
phản ánh yêu cầu quy luật tiết kiệm thời gian phản án trình độ sử dụng các nhuồn lực,
trình độ sản xuất và mức độ hoàn thiện của quan hệ sản xuất trong cơ chế thị trường. Trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng cao, quan hệ sản xuất càng hoàn thiện,
càng nâng cao hiệu quả. Tóm lại hiệu quả sản xuất kinh doanh đem lại cho quốc gia sự
phân bố, sử dụng các nguồn lực ngày càng hợp lý và đem lại hiệu quả cao cho doanh
nghiệp.
Đối với bản thân doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh xét về mặt tuyệt đối chính là
lợi nhuận thu được. Nó là cơ sở để tái sản xuất mở rộng, cải thiện đời sống cán bộ công
nhân viên. Đối với mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế
thị trường thì việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong sự
tồn tại và sự phát triển của doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn giúp doanh nghiệp cạnh tranh
trên thị trường, đầu tư, mở rộng, cải tạo, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho
việc sản xuất kinh doanh.
Đối với người lao động: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là động lực thúc đẩy kích
tích người lao động hăng say sản xuất, luôn quan tâm đến kết quả lao động của mình.
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với việc nâng cao đời sống lao động
thúc đẩy tăng năng suất lao động và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1. 1.2. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh
Để đánh giá tổng quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh, người ta thường sử dụng
chỉ tiêu doanh lợi. Các chỉ tiêu này phản ánh mức lời của doanh nghiệp. Ngoài ra còn sử
dụng nhiều chỉ tiêu khác để phản ánh hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào của
doanh nghiệp.
1.2.1 Nhóm các chỉ tiêu hiệu quả tổng quát
2.1.1. Hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Sức sản xuất của tổng tài sản:
SXX
TS
=
Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng tài sản bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao
nhiêu đồng doanh thu thuần.
Sức sinh lợi của tổng tài sản (ROA):
SSL
TS
=
Lợi nhuận
= ROA
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng tài sản bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
2.1.2. Hiệu quả sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu
Sức sản xuất của nguồn vốn chủ sở hữu
SSX
VCSH
=
Doanh thu thuần
= ROE
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra kinh doanh thì đem lại bao nhiêu
đồng doanh thu.
Sức sinh lợi của nguồn vốn chủ sở hữu (ROE):
SSL
VCSH
= Lợi nhuận sau thuế = ROE
10
Chuyên đề tốt nghiệp :Phân tích - nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Vốn chủ sở hữu bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra kinh doanh thì đem lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
2.1.3. Hiệu quả sử dụng chi phí
Sức sản xuất của chi phí:
SXX
CP
=
Doanh thu thuần
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng chi phí bỏ ra trong kỳ thì tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu.
Sức sinh lợi của chi phí:
SSL
CP
=
Lợi nhuận
Tổng chi phí
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng chi phí bỏ ra trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
1.2.2 Nhóm các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận
1) 1.2.2.1. Hiệu quả sử dụng lao động
Sức sản xuất của lao động bình quân::
SSX

=
Tổng doanh thu
Tổng lao động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ, 1 lao động tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Nó phản
ánh lao động có ích trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Sức sinh lợi của lao động:
SSL

=
Tổng lợi nhuận
Tổng lao động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ, 1 lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
2) 1.2.2.2. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
Sức sản xuất của tài sản cố định:
SSX
TSCĐ
=
Doanh thu thuần
Tài sản cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSCĐ bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu
đồng doanh thu thuần.
Sức sinh lợi của tài sản cố định:
SSL
TSCĐ
=
Lợi nhuận
Tài sản cố định bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSCĐ bỏ ra thì kinh doanh trong kỳ thì thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
1.2.2.3.Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Sức sản xuất của tài sản lưu động:
SSX
TSLĐ
=
Doanh thu thuần
Tài sản lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSLĐ bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu
đồng doanh thu thuần.
Sức sinh lợi của tài sản lưu động:
SSL
TSLĐ
=
Lợi nhuận
Tài sản lưu động bình quân
12
Chuyên đề tốt nghiệp :Phân tích - nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng TSLĐ bỏ ra kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
Tốc độ luân chuyển TSLĐ trong năm:
TĐLC
TSLĐ
=
Doanh thu
Tài sản lưu động bình quân
3)
2. 1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là việc nhận thức vạch ra một cách đúng đắn những yếu tố tác động đến kết quả
nhất định trong việc phân tích kinh doanh.
Như vậy việc xác định ảnh hưởng của các nhân tố không những cần phải chính xác
mà còn cần phải kịp thời, không những chỉ xác định các nhân tố đối tượng với hiện tượng
kinh tế mà còn phải xác định sự tác động qua lại giữa các nhân tố đó.
Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ta có thể phân loại theo 4
cách khác nhau là theo tính tất yếu của nhân tố, theo tính chất của nhân tố, theo xu hướng
tác động của nhân tố và các nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh.
1.3.1 Theo tính tất yếu của nhân tố
Nhân tố chủ quan: Như giá thành, mức phí lao động, thời gian lao động là nhân
tố tuỳ thuộc nội lực của doanh nghiệp.
Nhân tố khách quan: Giá cả thị trường, thuế suất, mức lưong tối thiểu hoặc
trung bình…tác động từ ngoài vào người kinh doanh.
Phân tích hiệu quả kinh doanh theo các yếu tố chủ quan và khách quan nhằm đánh
giá nỗ lực của bản thân và tìm ra biện pháp tăng hiệu quả kinh doanh.
1.3.2 Theo tính chất của nhân tố
Nhân tố số lượng: Phản ánh quy mô sản xuất như số lao động, số lượng vật tư,
khối lượng sản phẩm, doanh thu bán hàng.
Nhân tố chất lượng: Phản ánh hiệu suất kinh doanh như: giá thành đơn vị sản
phẩm, lãi suất, mức doanh lợi, hiệu quả sử dụng vốn.
Phân tích kết quả kinh doanh theo các nhân tố chất lượng và số lượng vừa giúp cho
việc đánh giá phương hướng kinh doanh, chất lượng kinh doanh, vừa giúp cho việc xác
định các trình tự sắp xếp và thay thế các nhân tố khi tính toán mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố đến kết quả kinh doanh.
1.3.3 Theo xu hướng tác động của nhân tố
Nhân tố tích cực: Có tác dụng làm tăng quy mô kết quả kinh doanh.
Nhân tố tiêu cực: Có tác dụng xấu đến kết quả kinh doanh.
Trong phân tích cần xác định xu hướng và bù trừ độ lớn của các nhân tố tích cực để xác
định ảnh hưởng tổng hợp các loại nhân tố.
Chú ý: Việc phân loại nhân tố phải tuỳ thuộc vào mối quan hệ của nhân tố với chỉ tiêu
phân tích.
Ví dụ: Số ngày làm việc của nhân tố số lượng trong chỉ tiêu mức lao động sống.
Song lại là chỉ tiêu chất lượng trong khi nghiên cứu ảnh hưởng của số lao động, sử dụng
thời gian lao động “Tổng sản lượng”.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng thuộc môi trường kinh doanh
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp
không thể kiểm soát được. Nhân tố môi trường kinh doanh bao gồm nhiều nhân tố như là:
Đối thủ cạnh tranh, thị trường, cơ cấu ngành, tập quán, mức thu nhập bình quân của dân
cư …
Đối thủ cạnh tranh bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp (Cùng tiêu thụ các sản
phẩm đồng nhất ) và các đối thủ cạnh tranh thứ cấp ( Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có khả
năng thay thế ). Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. bởi vì doanh nghiệp lúc này chỉ có thể nâng
cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để đẩy
mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, tăng vòng quay của vốn, yêu cầu doanh nghiệp phải
tổ chức lại bộ máy hoạt động phù hợp tối ưu hơn, hiệu quả hơn để tạo cho doanh nghiệp
có khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủng loại, mẫu mã … Như vậy đối thủ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét