nhiên, trẻ em dới 13 tuổi cũng đợc phép học nghề trong một số trờng dạy nghề
do Bộ Lao động, Thơng binh và Xã hội quy định.
- Công ớc tuổi tối thiểu của ILO năm 1973 (số138) : hạ tuổi tối thiểu
chung là 14 và hạ tuổi vào làm công việc nhẹ là 12. Cho phép làm việc từ tuổi
16 trong công việc độc hại nếu có những bảo vệ thích hợp (Điều 7: cho phép
sử dụng lao động của ngời từ 13- 15 tuổi trong những công việc nhẹ nhàng mà
không có hại cho sức khoẻ hoặc sự phát triển, học tập )
- Lao động trẻ em giúp việc gia đình là loại lao động thuê mớn có tính
chất thoả thuận giữa ngời chủ nhà (ngời sử dụng lao động) và trẻ em (ngời dới
18 tuổi hoặc dới 16 tuổi)
(9)
.
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm trẻ em (ngời lao động cha
đủ tuổi 16) theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam (1995). Cũng nh Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (trẻ em là những ngời dới 16 tuổi) đã cho
thấy đây là giai đoạn quan trọng đầu tiên hình thành và phát triển nhân cách, trí
tuệ của trẻ. Vì vậy, giai đoạn này trẻ em cần đợc chăm sóc và bảo vệ đặc biệt.
Lao động là một trong những yếu tố cơ bản để trẻ em có thể phát triển toàn diện
và lành mạnh nhng nếu lao động không đúng cách hoặc quá sức sẽ dẫn đến sự
phát triển lệch lạc về cả thể chất lẫn tâm hồn trẻ em.
1.2 Nghiên cứu lao động trẻ em ở Việt Nam
ăngghen trong tác phẩm Vai trò của lao động trong lịch sử biến hoá từ
vợn thành ngời đã viết trong một chừng mực nhất định có thể nói lao động
sáng tạo nên chính con ngời. Đối với giáo dục con ngời thì lao động cũng là
một biện pháp giáo dục tốt. Thông qua quá trình lao động, trẻ em có thể dần
hoàn thiện bản thân, hình thành nhân cách và góp phần phát triển toàn diện mọi
mặt của trẻ em.
Những hoạt động lao động có ảnh hởng tới sự phát triển bình thờng của
trẻ em thờng đợc coi là vi phạm quyền cơ bản của trẻ em. Nhng thật đáng buồn
là trẻ em đã và đang là một trong những ngồn lao động chính tại nhiều gia đình,
5
địa phơng ở nớc ta (chủ yếu là tại các khu vực nông thôn). Trong các gia đình
Việt Nam, việc trẻ em tham gia giúp đỡ những công việc của gia đình là một
việc rất bình thờng và đơng nhiên, nhất là đối với những gia đình thiếu lao
động. Và nhiều ngời cho rằng công việc trong các gia đình mang lại lợi ích cho
trẻ với tính chất là một phần xã hội hóa (giáo dục không chính quy), dạy cho trẻ
những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống sau này. Không thể nói rằng những
công việc trong gia đình ấy hoàn toàn không mang lại tổn hại về thể chất hay
tâm lý cho trẻ em. Nhng việc trẻ em phải rời nhà đi lao động kiếm sống tại các
thành phố lớn lại gây nhiều tổn hại lớn tới sự phát triển bình thờng của trẻ em.
Nếu nói đến nguyên nhân chính thì kinh tế là yếu tố lớn đầu tiên dẫn đến
sự ra đi của trẻ em. Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã giúp nền kinh tế
nớc ta vơn lên mạnh mẽ nhng đồng thời cũng dẫn đến sự phát triển không đồng
đều ở nhiều nơi trong cả nớc. Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng. Nhiều
trẻ em đã phải bỏ học để tự kiếm sống và giúp đỡ gia đình. Một số trẻ em may
mắn hơn khi không phải bỏ học thì phải chọn cho mình một công việc nào đó
để tự lo liệu tiền để trang trải việc học tập của mình (Năm 2002, tỷ lệ đi học
đúng tuổi ở khu vự nông thôn tại các cấp: tiểu học là 98,2%, trung học cơ sở là
69,9%, trung học phổ thông là 37,7%)
(10)
. Và các trung tâm kinh tế lớn của cả
nớc nh Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng đã trở thành
đích đến của những ngời dân nông thôn mong muốn có thể cải thiện đợc đời
sống.
Để có một cái nhìn khái quát về vấn đề lao động trẻ em nói chung, cũng
nh thực trạng nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam tôi xin tóm lợc một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu nh sau:
Trớc hết, phải kể đến chơng trình nghiên cứu Trẻ em làm thuê giúp việc
gia đình do Tổ chức Cứu trợ trẻ em của Thuỵ Điển (Save the Children Sweden)
cộng tác với Khoa Tâm lý học (Trờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn-
Đại học Quốc gia Hà Nội) thực hiện năm 2000. Đối tợng nghiên cứu tập trung
6
vào nhóm trẻ em giúp việc gia đình tại Hà Nội, nhằm tìm hiểu nguyên nhân,
đặc điểm và ảnh hởng của lao động tới sự phát triển cá nhân của trẻ cũng nh mô
tả mối quan hệ xã hội của trẻ tại nơi làm việc. Nghiên cứu này đợc tiến hành
bằng sự kết hợp sử dụng các phơng pháp định lợng (dùng bảng hỏi), định tính
(phỏng vấn sâu 20 trờng hợp trong đó có 5 trờng hợp phỏng vấn gia chủ và 15
trờng hợp trẻ em) và phân tích t liệu. Tiếp theo là báo cáo của nhóm tác giả về
vấn đề Lao động trẻ em tại thành phố Hồ Chí Minh do Quỹ cứu trợ nhi đồng
Anh tiến hành năm 1998. áp dụng phơng pháp điều tra bảng hỏi để thu thập
thông tin về nhiều loại ngành nghề khác nhau có trẻ em tham gia. Và một số
báo cáo nh, Điều đầu tiên trớc hết trong lao động trẻ em: xoá bỏ những công
việc độc hại với trẻ em do Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) phối hợp với quỹ
nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) điều tra năm 1999, Một thế giới phù hợp
với trẻ em đợc thực hiện năm 2001 dới sự tài trợ của Quỹ bảo trợ nhi đồng
Anh
Vấn đề lao động trẻ em cũng là mối quan tâm hàng đầu của các bộ ngành
liên quan. Chúng ta có thể đa ra một số điều tra tiêu biểu nh: Vấn đề lao động
trẻ em ở Việt Nam (Bộ Lao động và Thơng binh xã hôị, 1997). Đây là tài liệu
tập trung những báo cáo đợc trình bày tại một cuộc toạ đàm về vấn đề lao động
trẻ em ở Việt Nam. Những báo cáo này chỉ rõ nguyên nhân, hậu quả của lao
động trẻ em và đa ra một số kiến nghị.
Bên cạnh đó, là một số bài nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí chuyên
ngành các tác giả. Đáng chú ý nhất là Nguyễn Văn Chính (1999). Trong bài viết
này, tác giả đã đề cập đến thực trạng công việc và bản chất của lao động trẻ em.
Thông qua việc phân tích các khía cạnh khác nhau của hiện tợng lao động trẻ
em, tác giả nêu lên một số giả thiết khoa học mang tính lý luận đồng thời chỉ rõ
các phơng pháp tiếp để nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Còn với tác
giả Nguyễn Hồng Thái (2003) lại đi sâu vào tìm hiểu các hình thức lạm dụng
trẻ em. Theo cách phân loại của tác giả thì có lạm dụng trẻ em về thân thể, lao
7
động trẻ em, lạm dụng tình dục trẻ em, bạo lực gia đình đối với trẻ em và trẻ em
phải chứng kiến bạo lực gia đình. Tác giả cho rằng, sự phát triển kinh tế và lối
sống do cơ chế thị trờng đã tác động tiêu cực đến tình trạng lạm dụng, ngợc đãi
trẻ em ở Việt Nam trong thời gian qua. Tác giả Nguyễn Thị Bích Nga (2003) lại
đề cập đến vấn đề việc làm và đời sống của nam nữ nông thôn lao động theo
thời vụ tại Hà Nội, đợc rút ra từ kết quả nghiên cứu định tính với quy mô nhỏ tại
Hà Nội và xã Xuân Thợng, huyện Xuân Trờng, tỉnh Nam Định trong năm 2000
- 2001.
Khái quát nêu trên về thực trạng nghiên cứu vấn đề lao động trẻ em ở
Việt Nam, cho thấy, phần lớn các nghiên cứu này đều đợc tiếp cận từ góc độ Xã
hội học. Hơn nữa, mảng đề tài về nhóm trẻ em lao động giúp việc gia đình theo
thời vngời vẫn còn cha đợc chú ý nhiều. Xuất phát từ mong muốn đóng góp
phần nào vào việc nghiên cứu về đối tợng trẻ em đặc thù này, tôi sẽ tập trung
tìm hiểu những tác động của việc tham gia lao động thời vụ tới những trải
nghiệm cá nhân và mối quan hệ xã hội của các em tại địa phơng. Vận dụng các
phơng pháp nghiên cứu thờng thấy trong Nhân học, tôi có thể tìm hiểu sâu hơn
những tác động, thay đổi trong nhận thức của cá nhân trẻ. Những thay đổi này
đợc thể hiện thông qua cách thức giao tiếp của trẻ trong các mối quan hệ xã hội.
1.3 Thực trạng lao động trẻ em ở Quảng Châu
Quảng Châu là một trong 41 xã của huyện Quảng Xơng, cách thành phố
Thanh Hoá 12 km và cách biển Đông 3 km. Quảng Châu có diện tích 4.107 km
2
với dân số 8.112 ngời. Toàn xã chia thành 9 thôn, gồm 520 hộ. Ngoài ra, xã còn
có thể chia thành 6 làng. Ngoài sản xuất nông nghiệp là nghề chính, địa phơng
còn có thêm một số nghề khác nh chăn nuôi, đánh bắt cngời ngoài ra còn cos
một số nghề phụ khác nh thợ xây, phụ hồ, cửu vạn với khoảng 400 lao động tự
do. Theo số liệu của chính quyền địa phơng, thu nhập bình quân đầu ngời ở xã
là gần 4 triệu đồng/ngời/năm.
8
Quảng Châu cũng chỉ là một trong nhiều địa phơng khác có nguồn lao
động d thừa và ngồn lao động trẻ em cung cấp cho Hà Nội. Theo nguồn số liệu
của một ngời làm nghề môi giới cung cấp lao động cho một trung tâm giới thiệu
việc làm ở Hà Nội thì tính trong toàn bộ xã Quảng Châu và một vài xã lân cận
(nhng chủ yếu ở địa bàn xã Quảng Châu) trong khoảng thời gian 1 năm
( 16/3/2004 10/4/2005 ) số ngời mà chị đã giới thiệu tới trung tâm giới thiệu
việc làm là 180 ngời. Trong số đó có 12 ngời là nam giới còn lại là nữ giới. Đặc
biệt, có 64 ngời trong số đó là trẻ em gái có độ tuổi 13 - 16 tuổi. Tất cả các em
đều làm công việc giúp việc gia đình ở Hà Nội. Có 13 trẻ trong số 64 trẻ gái đó
còn đang đi học tại thời điểm diễn ra hoạt động lao động giúp việc theo thời vụ.
Với một số ngời dân địa phơng thì lao động theo thời vụ là việc làm quen
thuộc trong những ngày nông nhàn. Đó là thời điểm và công việc thích hợp để
kiếm thêm tiền trong khi không có việc làm. Nh vậy, lao động theo thời vụ là
giải pháp hữu hiệu để giải quyết hai khía cạnh cơ bản của cuộc sống: việc làm
và kinh tế.
Lao động giúp việc gia đình là công việc của những ngời phụ nữ địa ph-
ơng trong khi chờ mùa vụ. Họ chỉ đi là trong dịp nông nhàn vì khi tới mùa vụ
thì sẽ trở về. Nh vậy, trên thực tế thì phần lớn ngời lao động tham gia công việc
này của địa phơng lao động mang tính chất thời vụ vì với họ nông nghiệp mới là
công việc chính. Đặc biệt là đối với trẻ em gái đang còn đi học. Chỉ một số ít
trong họ là coi đây là công việc thờng xuyên quanh năm.
Giúp việc gia đình đòi hỏi sự khéo léo, đức tính cẩn thận, thật thà và có
thể cả một chút sự chịu đựng. Giúp việc gia đình đặc biệt phù hợp với lứa tuổi
nhỏ (khoảng dới 18) hoặc ngời lớn tuổi (40 - 60 tuổi) không có gia đình hay con
cái đã lớn. Đây là hai khoảng lứa tuổi đợc nhiều ngời thuê lao động lựa chọn
bởi những lý do khá tế nhị. Để giả thích cho lựa chọn này, ngời chủ thuê lao
động đã đa ra lý do sau:
9
Thông thờng khi con gái trên 18 tuổi là lứa tuổi biết yêu đơng, dễ đua đòi
hoặc đã có chồng và con nhỏ nên không thể làm công việc này vì thời gian xa
nhà kéo dài. Mặt khác, những trẻ em còn ít tuổi thờng khoẻ mạnh, chịu khó và
đặc biệt là dễ bảo, dễ sai khiến hơn ngời lớn tuổi. Nếu ngời giúp việc là những
cô gái tuổi từ 18 - 30 thì sẽ dễ dẫn đến những tình huống khó xử khác nh có
quan hệ với ông chủ hay con chủ nhà. Vì vậy mà nhiều gia chủ cho rằng lứa
tuổi 12 - 17 tuổi là lứa tuổi thích hợp nhất cho công việc này.
Còn đối với những ngời có tuổi thờng ít vớng bận gia đình vì con cái họ
đã lớn, họ bết lo toan chu tất công việc gia đình nhng do đã lớn tuổi nên khó sai
bảo, hay ốm yếu và dễ tự ái. Nên dù sao thuê những trẻ em có lứa tuổi từ 12 -
17 tuổi là thích hợp nhất.
Trên thực tế, hầu nh rất ít trờng hợp phụ nữ có con còn nhỏ mà lại đi giúp
việc gia đình bởi vì một lý do dơn giản là công việc này đòi hỏi họ phải vắng
nhà hàng tháng. Họ không thể bỏ con ở nhà cho chồng hay bố mẹ chăm sóc để
đi làm xa. Đối với những trẻ em gái có trình độ thấp thì công việc giúp việc gia
đình có vẻ là một công việc an toàn và nhàn hạ nhất. Vì vậy, những trẻ gái
không muốn bỏ học lại muốn kiếm thêm tiền để trang trải việc học hành và giúp
đỡ gia đình đều lựa chọn công việc này trong những ngày nghỉ hè hoặc nghỉ tết.
Giúp việc gia đình theo thời vụ đã trở thành công việc quen thuộc đối với nhiều
trẻ em gái ở nông thôn. Nếu tranh thủ đi làm vào 3 tháng nghỉ hè, các em có thể
có đợc số tiền lơng đủ để trang trải tiền học cho cả năm học và còn giúp thêm
một phần cho gia đình. Một đợt có thể đi làm nữa đó chính là dịp nghỉ tết. Khi
tất cả những ngời lao động khác đi làm việc quanh năm tại thành phố đã về quê
hơng để đón tết thì những trẻ em gái này lại bắt đầu bớc vào những ngày làm
việc mới. Do thời điểm làm việc khá đặc biệt nên sau 10 ngày giúp việc gia
đình ngày tết các em sẽ có một khoản tiền lơng bằng một tháng lơng đi giúp
việc vào dịp nghỉ hè.
10
Nh đã nêu trên, đối với hầu hết ngời tham gia lao động thì công việc này
chỉ mang tính tạm thời bởi với họ khi không còn khó khăn nữa thì đó cũng là
lúc họ không làm nghề này nữa. Đặc biệt là đối với trẻ em gái. Một mặt, nếu
các em đã bỏ học thì các em cũng chỉ làm công việc này một thời gian để kiếm
ít vốn làm ăn rồi lấy chồng vì ở nông thôn họ thờng lấy chồng từ rất sớm (nếu
con gái khoảng 22, 23 tuổi mà cha lấy chồng thì đã bị coi là ế). Mặt khác, đối
với những em lao động thời vụ để kiếm tiền trang trải việc học thì các em chắc
chắn cũng không theo đuổi công việc này lâu dài.
Nhiều trẻ em gái ở nông thôn mong muốn đợc học tập cao hơn đang
đứng trớc nguy cơ phải bỏ học vì không có tiền để chi phí cho học tập (học càng
lên cao thì chi phí cho học tập cũng ngày càng tăng). Trong khi đó, mỗi gia
đình ở nông thôn thờng có 3, 4 con. Để có thể cho các con đi học quả là một
việc quá sức đối với nhiều gia đình cho dù đã có Luật phổ cập giáo dục Việt
Nam miễn học phí đối với học sinh cấp tiểu học. Do đó, những trẻ em gái mong
muốn có tiền chi trả cho học tập cần phải tự mình kiếm tiền và giúp đỡ cho bố
mẹ. Giúp việc gia đình theo thời vụ là một lựa chọn thích hợp nhất!
Tranh thủ những dịp nghỉ hè và nghỉ tết, trẻ em gái thông qua mạng lới di
c mà tới những thành phố lớn để giúp việc gia đình. Mạng l ới xã hội hình
thành từ qúa trình di c cũng nh phục vụ cho mục đích di c đợc gọi là mạng lới
di c (Đặng Nguyên Anh, 1998: tr. 16). Đặc trng cơ bản của mạng lới di c là
liên kết những ngời di chuyển thông qua các quan hệ cùng quê, họ hàng. thông
qua mạng lới di c, di chuyển này các em có thể tiếp nhận đợc những thông tin
và sự trợ giúp cần thiết tại nơi các em sẽ tới lao động kiếm tiền. Nhng những
thông tin ấy chỉ là những thông tin cơ bản, bớc đầu về công việc mà các em sẽ
làm: giúp việc gia đình là làm những công việc vặt gia đình, chăm ngời ốm, ng-
ời già, trẻ nhỏ Tất cả những công việc này mỗi trẻ em gái cũng đều đã làm
quen ở gia đình mình. Vì vậy, các em nghĩ rằng đây là một công việc nhàn hạ,
11
dễ làm mà cha thể hình dung đợc hết những khó khăn mà các em sẽ gặp phải
trong quá trình làm việc.
Với những chuẩn bị về tâm lý cơ bản thông qua kênh thông tin từ những
ngời đã đi làm trớc đó mà các em sẵn sàng rời nhà đi lao động kiếm tiền. Đối
với những trẻ em gái lần đầu tới thành phố lớn, lần đầu xa gia đình thì đây quả
là một thời điểm không dễ dàng gì.
Qua tìm hiểu một số gia đình có nhu cầu thuê ngời giúp việc gia đình cho
thấy: Để tìm đ ợc một ngời giúp việc vừa ý rất khó! Nhà cô thuê đến hơn chục
ngời rồi mà vẫn cha ng. Có ngời chỉ làm đợc vài ngày rồi bỏ. Chứng nó bây
giờ cũng kiêu lắm, không làm ở nhà này thì đi làm ở nhà khác, thiếu gì nhà
cần ngời (ngời giúp việc) (Ngời thuê lao động). Nh vậy, những ngời lao động
ngoại tỉnh này đã bớc đầu có sự lựa chọn môi trờng làm việc của mình. Nhng có
điều nhiều trẻ em gái phải rời quê ra Hà Nội giúp việc nhng lại thờng hay muốn
đợc ở tại một gia đình khá giả hoặc một gia đình đông ngời để trò chuyện Đó
chính là những đặc điểm tính cách của trẻ em. Chúng thờng thích thú nhiều nh-
ng cũng rất chóng chán, lại thích giao tiếp, thích đợc chơi đùa cho dù là hiện tại
chúng đang đi làm việc. Trong khi đó, với công việc này chúng thờng phải làm
việc một mình (Nhiều gia đình vì cả nhà đi vắng suốt ngày nên mới thuê ngời ở
nhà trông coi nhà cửa, dọn dẹp, nấu nớng). Trẻ em luôn có nhu cầu giao tiếp
cao nên chúng rất nhanh chóng cảm thấy buồn bực. Hơn nữa, cuộc sống nhộn
nhịp đô thị khiến nhiều khu dân c ở Hà Nội ngời ta không chú ý đến hàng xóm
và không có khái niệm tình làng nghĩa xóm. Nhiều chủ nhà không muốn cho
ngời giúp việc tiếp xúc với những ngời xung quanh vì họ lo sợ trẻ em nông thôn
dễ bị lừa (họ phải gánh trách nhiệm), hay đa chuyện Lại cộng thêm gia chủ
khó tính hay không hợp với gia chủ khiến các em khó có thể làm việc lâu dài.
Có những trờng hợp do các em thiếu trung thực, thiếu thật thà nên bị đuổi
việc
12
Những nguyên nhân ấy thờng khiến một số trẻ em khi đi giúp việc gia
đình muốn thay đổi chỗ làm. Còn đối với một số trẻ em gái đi giúp việc gia
đình thời vụ thì việc thay đổi chỗ làm thờng ít hơn so với những trẻ em coi đó là
một nghề kiếm sống lâu dài.
Lý do khiến các em lao động giúp việc mang tính thời vụ ít thay đổi chỗ
làm là: đối với các em đây chỉ là công việc mang tính thời vụ vì vậy khoẩng thời
gian để làm việc không nhiều (ví dụ: 10 ngày tết) nên các em luôn có ý nghĩ
rằng dù thế nào thì mình cũng chỉ làm việc ở đây một thời gian thôi, không
nên thay đổi nhiều làm gì cho mất thời gian (Hồng).
Công việc này cũng là môi trờng thuận lợi giúp các em điều kiện tiếp cận
với nền văn hoá, văn minh đô thị. Qua đó, trẻ em gái có thể làm tăng thêm
những kinh nghiệm sống và làm việc của bản thân. Chỉ có điều liệu các em có
biết sàng lọc, lựa chọn cho mình những nét văn hoá thích hợp với điều kiện
sống của mình không?
Tiểu kết chơng: Từ những tìm hiểu có hệ thống về tình hình nghiên cứu
vấn đề lao động trẻ nghiên cứu ở Việt Nam và thực trạng lao động trẻ em tại xã
Quảng Châu trong thời gian qua có thể cho phép tôi có cái nhìn khái quát và
khoa học về vấn đề này trớc khi tiến hành nghiên cứu.
Có thể thấy rằng, ngoài công trình nghiên cứu mang tính tiên phong về
phơng pháp tiếp cận vấn đề từ góc độ Nhân học của tác giả Nnguyễn Văn
Chính, phần lớn các nghiên cứu về vấn đề này đều đợc tiếp cận thông qua lăng
kính của các nhà Xã hội học. Điều này cho thấy vấn đề lao động trẻ em ở Việt
Nam hiện nay cha đợc tiếp cận theo nhiều phơng pháp, chiều hớng khác nhau
ngoài phơng pháp tiếp cận Xã hội học hiện nay.
Mặt khác, thu nhập của trẻ em giúp việc gia đình không hề quá thấp so
với mức thu nhập chung của thành phố mà còn cao hơn nhiều so với mức thu
nhập ở nông thôn. Hơn nữa, điều kiện lao động của công việc này thờng nhàn
13
hạ hơn nhiều so với nững công việc nặng nhọc ở quê nhà. Do đó, giúp việc gia
đình giờ đây đã trở thành một nghề rất phổ biến, hấp dẫn đối với nhiều trẻ em
gái ở khu vực nông thôn.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét