trung và dài hạn có thể xem xét làm công cụ giao dịch, với điều kiện công cụ đó
có khả năng thanh khoản cao.
Vì sao nói giấy tờ có giá trung và dài hạn sẽ đợc sử dụng trên TTM khi
điều kiện cho phép ? Ta biết rằng hành vi mua vào và bán ra giấy tờ có giá là
hoạt động thờng xuyên trên TTM. Lúc này mua vào thì lúc khác bán ra, thậm
chí NHTW có thể thực hiện hành vi mua lại ngay lập tức sau khi hành vi bán đ-
ợc thực hiện nếu phát hiện ra mình đã mua quá nhiều và vì vậy đã đa tiền vào lu
thông quá mức cần thiết. Và ngợc lại thay hành vi bán bằng hành vi mua khi
cảm thấy sự ngột ngạt, nghẽn tắc của hoạt động kinh tế vì không đủ cần thiết
trong lu thông mà nguyên nhân do NHTW bán ra một số lợng giấy tờ có giá
quá lớn. Chính vì hành vi mua bán trao đổi thờng xuyên các giấy tờ có giá tạo ra
khả năng kết nối nhiều nguồn vốn ngắn hạn thành vốn trung và dài hạn để thoả
mãn nhu cầu của chủ thể kinh tế trên thị trờng vốn. Một nền kinh tế có thị tr-
ờng chứng khoán, có thị trờng tài chính phát triển thì tính chất dài à hạn của
nguồn vốn chỉ tồn tại ở phía ngời phát hành mà bản chất nguồn vốn dài hạn này
là một chuỗi các nguồn ngắn hạn tạo thành. Chúng ta không e ngại khi mua
chứng khoán trung và dài hạn thì vốn sẽ bị đọng lại một chỗ. Thời hạn của giấy
tờ có giá sẽ không mâu thuẫn với yêu cầu nhanh nhạy của CSTT vì đã có phơng
thức giao dịch theo hợp đồng mua lại trên TTM xử lý một cách thích hợp.
Nh vậy có thể nói phạm vi hàng hoá trên TTM là không bị giới hạn. ở Việt
Nam và các nớc khác cũng không nằm ngoài quy luật chung. Khi thị trờng tài
chính phát triển thì giấy tờ có giá có giá trung và dài hạn sẽ đợc sử dụng làm
công cụ của NVTTM ở Việt Nam.
2.2. Chủ thể tham gia NVTTM
2.2.1. Phạm vi thành viên tham gia NVTTM
Chủ thể tham gia NVTTM rất đa dạng và phong phú. Tuy vậy, cũng tuỳ
thuộc vào quy định riêng của mỗi nớc mà các thành viên tham gia vào NVTTM
là khác nhau. Thông thờng chủ thể tham gia bao gồm : NHTW, các tổ chức tín
dụng, các tổ chức phi tín dung, doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân nh ng
không phải tất cả các chủ thể đều có thể tham gia mà phải có những điều kiện
cần thiết. Có 3 điều kiện để xem xét phạm vi thành viên, đó là:
- Thứ nhất : NHTW muốn can thiệp trực tiếp vào lợng tiền cung ứng bao
gồm cả tiền mặt và tìên gửi , về mặt lý thuyết thành viên tham gia mua bán trong
trờng hợp này đợc mở rộng không những chỉ gồm các tổ chức tín dụng mà còn
cả các tổ chức khác, thậm chí có thể cả các cá nhân miễn là họ có tiền mặt và
tiền gửi.
- Thứ hai : nếu cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động
theo hớng đa năng nh hệ thống tổ chức tín dụng của Việt Nam hiện nay thì
phạm vi thành viên tham gia mở rộng đến tổ chức tín dụng là đủ .
- Thứ ba: khả năng chuyển tải của hệ thống thanh toán. nếu cá nhân
không có séc hoặc tiền trên tài khoản gửi tại NHTW thì không thể tham gia mua
bán đợc trên thị trờng mở, nếu tổ chức tín dụng(TCTD) không có mạng kết nối
với NHTW trong điều kiện giao dịch trên mạng thì cũng không thể trở thành
thành viên.
2.2.2. Điều kiện tham gia thị trờng mở ở Việt Nam
Chủ thể tham gia nghiệp vụ TTM ở Việt Nam, đợc quy định nh sau:
+ NHTW tham gia với t cách vừa là ngời tổ chức vừa là ngời điều hành thị
trờng, vừa là ngời trực tiếp mua bán trên thị trờng .
+ Các thành viên khác là các TCTD đợc thành lập và hoạt động theo luật
các TCTD bao gồm : TCTD Nhà nớc, TCTD cổ phần, TCTD hợp tác, TCTD phi
ngân hàng, TCTD nớc ngoài đợc phép hoạt động ở Việt Nam.
Theo điều 5, quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN14 ngày 9/3/2000
thì thành viên tham gia TTM phải có các điều kiện sau:
- Có tài khoản tiền gửi tại NHTW
- Có nối mạng máy tính với NHTW
- Có tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng thanh toán
- Chấp hành quy định NVTTM
- Có đăng kí tham gia NVTTM
Các tổ chức tín dụng khi đợcNHTW công nhận là thành viên tham gia
NVTTM sẽ đợc cấp mã số chữ kí cho những ngời đại diện qua máy tính, máy
Fax và mã số chữ kí cho những ngời đại diện tổ chức tín dụng cũng nh ngời
tham gia giao dịch thực hiện chế độ bảo mật với các giao dịch
3. Nội dung hoạt động thị trờng mở
Để hiểu đợc nội dung hoạt động thị trờng mở ta sẽ tìm hiểu nó trên các
khía cạnh: phơng thức mua bán giấy tờ có giá và phơng thức đấu thầu .
3.1.Phơng thức mua bán trên thị trờng mở
Tuỳ thuộc vào trạng thái khối lợng thị trờng, NHTW tiếp cận NVTTM
bằng một trong hai hớng :
- Dự báo thấy cung tiền tệ cần đợc tiếp tục điều chỉnh thì NHTW ngay
lập tức mua vào hoặc bán ra chứng khoán theo hình thức mua đứt bán đoạn(mua
bán hẳn).
- Nếu dấu hiệu yêu cầu chỉ cần tạm thời thay đổi dự trữ tiền tệ hoặc dự trữ
trong thời gian tới là thiếu ổn định thì NHTW thực hiện các giao dịch tác động
lên cung tiền tệ bằng các hợp đồng mua lại đối với trờng hợp muốn tăng dự trữ
tạm thời hoặc bằng các giao dịch mua bán đảo ngợc khi muốn giảm dự trữ tam
thời.
Nh vậy có hai hình thức giao dịch chủ yếu là hình thức mua bán hẳn và
hình thức mua bán có thời hạn.
*. Mua - bán hẳn : là việc mua bán và chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ
có giá từ bên bán cho bên mua và không kèm theo thoả thuận mua, bán lại. Với
phơng thức này, chỉ đợc thực hiện với các loại hàng hoá mà thời hạn còn lại (tức
thời gian thanh toán còn lại của giấy tờ có giá ngắn hạn tính từ ngày giấy tờ có
giá đợc mua, bán thông qua nghiệp vụ TTM đến hạn thanh toán ) tối đa theo
quy định trong từng thời kỳ(ở Việt Nam hiện nay là 90 ngày).
*. Mua bán có kỳ hạn(giao dịch có thời hạn): là việc bên bán bán và
chuyển giao giấy tờ có giá cho bên mua đồng thời cam kết mua lại và nhận lại
quyền sở hữu giấy tờ có giá đó sau thời gian nhất định.
Theo cách chia này, thì hình thức mua bán có thời hạn bao gồm hai
hình thức là hợp đồng mua lại và bán mua đảo ngợc mà các nớc thờng hay sử
dụng. Trong đó, hợp đồng mua lại đợc sử dụng trong trờng hợp NHTW muốn
tăng dự trữ tạm thời còn hình thức bán- mua đảo ngợc sử dụng trong trờng hợp
NHTW muốn giảm dự trữ tạm thời.
+ Hợp đồng mua lại : khi cần bổ sung tăng dự trữ tạm thời NHTW
tham gia trực tiếp vào việc ký hợp đồng mua lại chứng khoán của nhà môi giới,
tức là NHTW mua chứng khoán của nhà môi giới; còn nhà môi giới đồng ý mua
lại chứng khoán đó vào một ngày nhất định với một mức giá nhất định. Vì dự trữ
bổ sung này sẽ dừng lại một cách tự động khi hợp đồng mua lại đến hạn nên
nghiệp vụ này chỉ là cách bơm thêm dự trữ vào hệ thống tiền gửi tạm thời mà
thôi. Thời gian thực hiện hợp đồng mua lại thờng là 7 ngày.
+ Bán- mua đảo ngợc: khi cần giảm khối lợng tiền tệ NHTW thực hiện
giao dịch theo hình thức bán- mua đảo ngợc với các nhà môi giới, bằng một hợp
đồng bán ngay chứng khoán cho nhà môi giới và một hợp đồng đảo ngợc để
mua lại tiếp theo các chứng khoán từ nhà môi giới đó. Thời hạn thực hiện hợp
đồng thờng là 7 ngày.
3.2.Phơng thức đấu thầu trên thị trờng mở
Các hình thức mua bán trên thị trờng mở là mua bán hẳn và mua bán có
thời hạn đều đợc thực hiện trên phòng giao dịch thông qua phơng thức đấu thầu.
Có hai phơng thức mà NHTW áp dụng để đấu thầu là đấu thầu lãi suất và đấu
thầu khối lợng .
3.2.1 Phơng thức đấu thầu khối lợng
Là việc xác định khối lợng trúng thầu của các tổ chức tín dụng tham gia
nghiệp vụ TTM trên cơ sở khối lợng dự thầu của các tổ chức tín dụng, khối lợng
giấy tờ có giá mua hoặc bán và lãi suất do NHTW thông báo cụ thể nh sau :
- NHTW thông báo cho các TCTD mức lãi suất và khối lợng các loại giấy tờ
có giá cần mua hoặc cần bán (NHTW có thể không thông báo khối lợng cần
mua hoặc cần bán).
- Các đơn vị thành viên tham gia dự thầu khối lợng các loại giấy tờ cần mua
hoặc cần bán theo mức lãi suất do NHTW công bố
Sau khi mở thầu, NHTW xác định khối lợng trúng thầu của các đơn vị tham
gia dự thầu theo nguyên tắc sau :
+ Nếu tổng khối lợng dự thầu của các TCTD bằng hoặc thấp hơn khối lợng
NHTW cần mua hoặc cần bán thì khối lợng trúng thầu của đơn vị chính là khồi
lợng dự thầu.
+ Nếu tổng khối lợng dự thầu của các TCTD lớn hơn khối lợng NHTW cần
mua hoặc cần bán thì khối lợng trúng thầu của các TCTD sẽ đợc phân bổ theo tỷ
lệ thuận với khối lợng dự thầu của các TCTD.
3.2.2.Phơng thức đấu thầu lãi suất
Là việc xác định lãi suất trúng thầu của các TCTD tham gia NVTTM trên cơ
sở khối lợng dự thầu của các TCTD, khối lợng giấy tờ có giá mà NHTW cần
mua hoặc cần bán.
- NHTW có thể công bố hoặc không công bố khối lợng giấy tờ có giá cần mua
hoặc cần bán.
- Các đơn vị thành viên dự thầu theo mức lãi suất và khối lợng giấy tờ có giá
cần mua hoặc cần bán ứng với mức lãi suất đó. Lãi suất dự thầu đợc tính theo
tỷ lệ phần trăm và đợc làm tròn đến hai con số sau dấu phẩy. Lãi suất sẽ đợc
sắp xếp theo thứ tự lãi suất dự thầu giảm dần, nếu NHTW là ngời mua và ng-
ợc lại lãi suất sẽ đợc sắp xếp theo thứ tự tăng dần nếu NHTW là ngời bán.
- Lãi suất trúng thầu là lãi suất dự thầu cao nhất (trờng hợp NHTW bán) và lãi
suất dự thầu thấp nhất (trờng hợp NHTW mua) mà tại đó đạt đợc khối lợng giấy
tờ có giá NHTW cần mua hoặc cần bán.
Có hai phơng thức xét thầu theo lãi suất là xét thầu theo lãi suất thống
nhất hoặc theo lãi suất riêng lẻ:
+ Lãi suất thống nhất : là toàn bộ khối lợng trúng thầu đợc tính theo một
mức lãi suất trúng thầu để tính số tiền phải thanh toán.
+ L ãi suất riêng lẻ : khối lợng trúng thầu đợc tính tơng ứng với từng mức
lãi suất dự thầu đợc công bố trúng thầu để tính số tiền thanh toán.
Khối lợng trúng thầu đợc tính theo nguyên tắc :
+ Nếu tổng khối lợng dự thầu của các TCTD nhỏ hơn hoặc bằng khối l-
ợng mà NHTW cần mua hoặc cần bán thì khôí lợng dự thầu chính là khối lợng
trúng thầu.
+ Nếu tổng khối lợng dự thầu của các TCTD lớn hơn khối lợng mà NHTW
cần mua hoặc cần bán thì khôí lợng trúng thầu của các TCTD đợc tính tỷ lệ
thuận với khối lợng dự thầu của các TCTD đó.
4. Cơ chế tác động tới lợng tiền cung ứng của NVTTM
4.1. Khái niệm cơ số tiền tệ và lợng tiền cung ứng
Nghiệp vụ TTM đợc coi là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất, có
hiệu quả nhất vì nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với
những thay đổi trong cơ số tiền tệ và là nguồn chính gây nên những biến động
trong lợng tiền cung ứng. Việc NHTW mua trên TTM làm tăng cơ số tiền tệ và
do đó làm tăng lợng tiền cung ứng, còn việc bán trên TTM thì thu hẹp cơ số tiền
tệ và làm giảm lợng tiền cung ứng. Vậy để hiểu rõ cơ chế tác động tới lợng tiền
cung ứng của NVTTM chúng ta cần lắm chắc các khái niệm về cơ số tiền tệ và
lợng tiền cung ứng :
- Cơ số tiền tệ ( hay lợng tiền cơ bản (MB-Money Base) bao gồm lợng
tiền trong lu thông (C) cộng với lợng tiền dự trữ trong hệ thống các ngân hàng
(R ) (bao gồm cả tiền dự trữ bắt buộc mà các NHTM gửi tại NHTW (RR) và dự
trữ vợt quá nằm trong két của các NHTM(ER)
MB= C +R (1)
R = RR + ER (2)
- Lợng tiền cung ứng( hay mức cung tiền (MS) là tổng số tiền có khả
năng thanh toán. Nó bao gồm tiền mặt đang lu hành và các khoản tiền gửi không
kì hạn tại các NHTM(D).
Nh vậy, mức cung tiền lớn hơn nhiều so với lợng tiền cơ bản bởi do hoạt động
tạo ra tiền của các NHTM.
MS = C + D = ( 1+ C/D) D (4)
Để đảm bảo khả năng thanh toán, tránh sự sụp đổ, phá sản của các ngân
hàng, NHTW quy định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhất định (rr). Đó là số tiền bắt
buộc mà mỗi NHTW phải gửi ở NHTW trên tổng số tiền gửi của NHTM
RR = rr * D (3)
Từ (1),(2)và (3) suy ra: MB = rr* D + ER + C
MB = D (rr + ER/D +C/D ) (5)
Từ (4) và (5) suy ra : MS =
)1(
D
C
+
.
D
C
D
ER
rr ++
1
. MB
Số nhân tiền tệ :Mm
Nh vậy lợng tiền cung ứng ở trên chỉ gồm tiền mặt và tiền gửi không kì
hạn (M1). ở các quốc gia phát triển ngời ta còn có thêm một số thành phần
khác vào lợng tiền cung ứng.
Ta có thể biểu diễn MB và MS theo mô hình sau:
4.2. Cơ chế tác động của NVTTM
NVTTM tác động lên cung tiền và lãi suất trên thị trờng bằng việc mua
bán các giấy tờ có giá trên TTM.
- Khi NHTW thay mặt chính phủ đa chứng khoán ra thị trờng thứ nhất để
phát hành, nhân dân và các tổ chức đem tiền mặt đến mua nck. Đó là nghiệp vụ
bán trên TTM của NHTW. Nh vậy với nghiệp vụ này NHTW đã hút bớt một l-
ợng tiền ra khỏi lu thông hoặc làm cho dự trữ của các TCTD giảm làm giảm
khối lợng cho vay tín dụng của các TCTD; qua đó ảnh hởng đến cơ số tiền tệ, số
nhân tiền tệ làm lợng tiền cung ứng MS giảm và lãi suất trên thị trờng tăng
- Dĩ nhiên không phải đợi đến khi chính phủ nhờ phát hành, bản thân
NHTW cũng có chứng khoán riêng của nó do tích luỹ hoặc do các đơn vị khắc
thế chấp . Khi cần thu hẹp lợng tiền mặt ngoài lơu thông NHTW vẫn trực tiếp
thực hiện nghiệp vụ bán nh một hoạt động bình thờng.
Ngợc lại với nghiệp vụ bán là nghiệp vụ mua, nếu NHTW muốn phát hành
tiền vào lu thông quaTTM, nó đơn giản dùng tiền mặt mua chứng khoán trên thị
trờng thứ cấp hoặc của các TCTD. Khi cá nhân hay tổ chức bán chứng khoán
cho NHTW, chứng khoán về tay NHTW ngợc lại tiền mặt trong nền kinh tế
tăng. Nh vậy khi mua chứng khoán trên TTM, NHTW đã thêm một lợng tiền
vào lu thông làm tăng lợng tiền cung ứng và làm lãi suất thị trờng giảm.
Phát hành tiền trên nghiệp vụ TTM cũng đợc coi là nghiệp vụ phát hành
thanh khiết. Bởi vì tiền mặt tăng thêm trong lu thông đã đợc cân đối bởi lợng
chứng khoán, một dạng hàng hoá hay sản vật tăng thêm trong taì sản của
NHTW. Đây là cách phát hành tiền ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Sơ đồ hoạt động của NHTW trên TTM
Cụ thể thông qua nghiệp vụ ghi chép cuả kế toán
Cách tốt nhất để nắm đợc các hoạt động TTM tác động thế nào đến việc
thực hiện CSTT, hay cụ thể là cơ số tiền tệ là dùng các tài khoản T:
Mua trên TTM từ một ngân hàng
Khi NHTW mua 100 đô la chứng khoán từ một ngân hàng và thanh toán các
chứng khoán ấy bằng một séc 100 đô la. Ngân hàng bán chứng khoán đó sẽ gỉ tờ
séc đó vào tài khoản của nó ở NHTW hoặc sử dụng tờ séc đó để lĩnh tiền mặt từ
NHTW. Dù hành động theo cách nào ngân hàng bán chứng khoán sẽ thấy bản
thân nó có thêm 100 đô la tiền dự trữ và giảm 100 đô la tài sản chứng khoán. tài
khoản T cho hệ thống ngân hàng đó là:
Ngân hàng phục vụ
kinh doanh chứng
khoán
NHTW
NHTW bán
100tỷ đôla chứng khoán
Người kinh doanh chứng
khoán Chính phủ
Lệnh thanh
toán cho
NHTW
Ngân hàng phục vụ người kinh doanh
thanh toán 100 tỷ đôla
thông qua tài khoản dự trữ
Ngân hàng phục vụ ngư
ời kinh doanh
chứng khoán
NHTW
NHTW mua
100tỷ đôla chứng khoán
Người kinh doanh chứng
khoán Chính phủ
Thông báo về
giao dịch
NHTW thanh toán cho người kinh doanh
100 tỷ đôla thông qua tài khoản dự trữ tại
NH phục vụ người kinh doanh
Ngân hàng phục vụ ngư
ời kinh doanh
chứng khoán
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét