Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Nâng cao chất lượng bảo lãnh của Chi nhánh Ngân hàng Công thương Đống Đa.DOC

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
Chương 1: Bảo lãnh và chất lượng bảo lãnh của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng bảo lãnh của Chi nhánh Ngân hàng Công thương
Đống Đa
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng bảo lãnh của Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Đống Đa
CHƯƠNG I: BẢO LÃNH VÀ CHẤT LƯỢNG BẢO LÃNH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Bảo lãnh của Ngân hàng thương mại
1. Dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại
1.1. Tổng quan về bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh là một dich vụ tương đối mới so với các dịch vụ của ngân hàng
thương mại. Nghiệp vụ bảo lãnh được thực hiện lần đầu tiên ở Mỹ vào những năm 60
của thế kỉ XX và cho tới đầu những năm của thập niên 70 thì bảo lãnh thực sự bắt
đầu được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế xuất phát từ yêu cầu của
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
các nước trong khu vực Trung Đông. Đây là nơi có nguồn dầu mỏ dồi dào, vì thế các
nước nay giàu lên nhanh chóng, và bắt đầu nảy sinh nhu cầu về xây dựng cơ sở hạ
tầng, củng cố an ninh, quốc phòng, nâng cao tiềm lực Để thực hiện các nhu cầu này,
các quốc gia ở Trung Đông đã kí kết hợp đồng kinh tế với các nước Phương Tây để
triển khai và xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cho họ. Những hợp đồng kinh tế
này có giá trị rất lớn và thường đi kèm với đó là sự rủi ro cho các nước chủ nhà. Để
đảm bảo an toàn, các nước này đã đưa ra yêu cầu phải có sự đảm bảo vững chắc
trong việc thực hiện các hợp đồng của các nước phương Tây thông qua hình thức bảo
lãnh của ngân hàng. Đó là nghiệp vụ bảo lãnh thực hiện hợp đồng đầu tiên trên thế
giới. Ngày nay, bảo lãnh ngân hàng đã trở thành một nghiệp vụ phổ biến với doanh
số gia tăng một cách đáng kinh ngạc ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong giao
dịch quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được thực hiện theo qui ước thống nhất do phòng
thương mại quốc tế ICC ban hành.
Ở Việt Nam thì bảo lãnh Ngân hàng có mặt vào khoảng cuối thập kỷ 80.
Trong khi nền kinh tế xu hướng hội nhập ngày càng lớn, nhu cầu của hoạt động kinh
doanh trong các doanh nghiệp ngày càng trở lên rất phong phú và phát triển, điều này
khiến cho bản than chính các doanh nghiệp cảm nhận được một đòi hỏi mang tính tất
yếu đó là cần phải có một tổ chức chuyên môn có đủ năng lực, uy tín đứng ra đảm
bảo quyền lợi của các bên trong các quan hệ thương mại để giảm thiểu rủi ro trong
kinh doanh. Từ nhu cầu đó, dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
đã được ra đời. Dịch vụ bảo lãnh từ đó mở rộng và phát triển song song với sự phát
triển của nền kinh tế và sự mở rộng của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
của nó.
* Khái niệm về bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân hàng dưới hình thức
thư bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng
khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết. Khách hàng sẽ bị ghi
nợ bắt buộc và bị tính lãi trên số tiền đó như một khoản vay thông thường.
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
Bên bảo lãnh là bên phát hành bảo lãnh, có trách nhiệm thanh toán thay cho
bên được bảo lãnh khi bên này không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng đã ký
với bên thứ ba. Bên bảo lãnh là các tổ chức tín dụng gồm: ngân hàng thương mại và
các tổ chức tín dụng phi Ngân hàng hoạt động theo luật các tổ chức tín dụng.
Bên nhận bảo lãnh (bên thụ hưởng bảo lãnh) là các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước, được thụ hưởng các cam kết bảo lãnh của ngân hàng và có quyền yêu
cầu ngân hàng đứng ra thanh toán khi chứng minh được bên được bảo lãnh đã không
thực hiện hợp đồng như cam kết.
Bên được bảo lãnh: là các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài, có
trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của mình như trong hợp đồng cơ sở đã ký kết với
bên thụ hưởng bảo lãnh. Ngân hàng không được bảo lãnh đối với những người sau:
- Thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, tổng giám đốc (giám đốc), phó
tổng giám đốc (phó giám đốc) của ngân hàng.
- Cán bộ, nhân viên của chính ngân hàng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định,
quyết định bảo lãnh.
* Đặc điểm của bảo lãnh: Bảo lãnh có 3 đặc điểm chính là:
1. Đây là một hình thức mà tài trợ của ngân hàng cho khách hàng là thông qua
uy tín của ngân hàng và theo đó thì khách hàng có thể tự tìm nguồn tài trợ mới và có
thể mua được hàng hóa hay thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh để nhằm
mục đích đó là thu được lợi nhuận.
2. Bảo lãnh bản than đó là một hoạt phái sinh. Sở dĩ như vậy bởi vì quan hệ
của bảo lãnh được phát sinh chính từ quan hệ của bên nhận bảo lãnh với chính bên
được bảo lãnh.
Trong bảo lãnh bao gồm có 3 bên :
• Bên nhận bảo lãnh
• Bên được bảo lãnh
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
• Bên bảo lãnh
Vì vậy mà trong nghiệp vụ bảo lãnh thì thường có sự kết hợp của 3 hợp đồng kinh tế
đó là:
1. Hợp đồng kinh tế giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh
2. Hợp đồng cơ sở kí kết giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo
lãnh
3. Hợp đồng bảo lãnh của bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh
Bảo lãnh bản than nó cũng là một nghiệp vụ thuộc loại nghiệp vụ tín dụng ngân hàng
nên nó không thể tránh được rủi ro như một khoản tín dụng.Trong quá trình cấp bảo
lãnh thì bắt buộc ngân hàng cũng phải tiến hành việc thẩm định như khi ngân hàng
cấp một khoản tín dụng.
-Nghiệp vụ bảo lãnh trước hết nó tạo được mối liên kết trách nhiệm về tài
chính và sự san sẻ rủi ro. Tuy nhiên thì trách nhiệm tài chính trước hết phải thuộc về
chính khách hàng, trách nhiệm của ngân hàng sẽ chỉ phát sinh khi khách hàng không
thực hiện với bên thứ ba. Ngân hàng sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên thứ
ba khi khách hàng của chính ngân hàng không thực hiện cam kết, điều đó đồng nghĩa
rằng ngân hàng đã gánh chịu một phần rủi ro cho bên thứ ba. Chính vì điều này mà
ngân hàng bảo lãnh cho bên được bảo lãnh khi mà ngân hàng nhận được mức lợi
nhuận tương ứng cho phần rủi ro của mình. Phí bảo lãnh sẽ được ngân hàng tính dựa
trên mức độ rủi ro của từng khoản bảo lãnh.
1.2 Vai trò của bảo lãnh
a.Đối với nền kinh tế
Kinh tế ngày nay càng ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ, các hoạt động
tài chính ở trên thế giới diễn ra sôi động và gia tăng rất nhanh chóng. Vieech người
vay bán chứng khoán trực tiếp cho nhà đầu tư dường như được ưa thích hơn hẳn so
với việc vay tiền ngân hàng.
Nhưng có một điều gây trở ngại đó là việc tài chính trực tiếp làm tăng mối lo
ngại về rủi ro vỡ nợ của người vay, chỉ có bảo lãnh của một ngân hàng uy tín mới có
thể giải quyết được vấn đề này.
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
Nhờ có sự hỗ trợ của bảo lãnh ngân hàng mà giờ đây các doanh nghiệp và các
cơ sở kinh doanh có thể tiếp cận được với nguồn vốn một cách phù hợp hoặc cũng có
thể thực hiện giao dịch dễ dàng.
Bão lãnh đối với nền kinh tế đã góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển, điều này chính là thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
b.Đối với ngân hàng
Ngân hàng hàng đồng ý chấp thuận bảo lãnh cũng chính là tạo điều kiện cho
ngân hàng có thêm được khoản thu nhập bổ sung đáng kể trên mỗi hợp đồng dựa trên
các khả năng đánh giá tín dụng đối với khách hàng mà không cần cam kết trực tiếp
cung cấp vốn. Đồng thời Ngân hàng sẽ nhận được một khoản phí cho việc cung cấp
dịch vụ bảo lãnh (Phí sẽ tính trên % số tiền bảo lãnh )…
Khách hàng đến Ngân hàng yêu cầu bảo lãnh sẽ được ngân hàng yêu cầu phi
có ký quỹ một khoản tiền nhất định mà cơ sở ký quỹ tùy thuộc theo tỷ lệ % dựa trên
số tiền yêu cầu bảo lãnh. Cũng phải tùy theo từng loại rủi ro của các khoản bão lãnh
và loại khách hàng mà có thể có tỷ lệ ký quỹ thay đổi linh động từ 0 đến 100%
(những khách hàng mới giao dịch với ngân hàng lần đầu hoặc có tình hình tài chính
không lành mạnh ngân hàng thường bắt ký quỹ 100%). Khoản tiền này mang lại
nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng với chi phí rất thấp.
c.Đối với bên được bảo lãnh
Thông qua uy tín của ngân hàng thì bảo lãnh đã giúp cho doanh nghiệp có thể
thuận lợi trong thanh toán của mình. Trường hợp doanh nghiệp bị thiếu vốn kinh
doanh, hay doanh nghiệp chưa đủ tin cậy và uy tín đối với bạn hàng của mình thì bảo
lãnh ngân hàng sẽ hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm được nguồn vốn trong nước cũng
như nước ngoài với chi phí thấp hơn so với phải đi vay ngân hàng.
Qua việc thực hiện bảo lãnh ngân hàng mang lại sự tin tưởng cho các bạn hàng của
doanh nghiệp có mối quan hệ kinh tế, việc bảo lãnh sẽ khiến cho các doanh nghiệp
gặp nhiều thuận lợi tronh khi tham gia đấu thầu hay thực hiện giao dịch hay ký kết
hợp đồng.
d. Đối với bên nhận bảo lãnh
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
Trong bảo lãnh ngân hàng thì chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh đó là
khả năng được thanh toán cho bên nhận bảo lãnh trong trường hợp bên yêu cầu bảo
lãnh không thực hiện đúng các cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Việc bảo lãnh của ngân hàng đã góp phần mang lại cho bên thứ ba sự tin
tưởng hơn, đồng thời hạn chế được những tổn thất mà bên thứ ba có thể gặp phải do
việc thông tin không cân xứng hay là rủi ro trong đạo đức. Bảo lãnh ngân hàng thực
tế đã mang lại rất nhiều lợi ích cho bên nhận bảo lãnh.
1.3 Phân loại bảo lãnh
a.Căn cứ vào bản chất bảo lãnh
- Bảo lãnh trực tiếp
Đây là loại hình bảo lãnh mà theo đó thì ngân hàng phát hành bảo lãnh chịu
trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh.
Bảo lãnh trực tiếp thường có ba bên đó là bên tham gia là ngân hàng bảo lãnh,
bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.
- Bảo lãnh gián tiếp
Loại hình này thì trong đó ngân hàng phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một
ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác là
bảo lãnh đối ứng. Và khi đó thì người được bảo lãnh không phải bồi hoàn trực tiếp
cho ngân hàng phát hành bảo lãnh, nghĩa vụ bồi hoàn thuộc về ngân hàng trung gian.
Bảo lãnh gián tiếp đòi hỏi phải có ít nhất 4 bên tham gia:
1. Bên được bảo lãnh
2. Bên hưởng bảo lãnh
3. Ngân hàng trung gian
4. Ngân hàng phát hành bảo lãnh
- Bảo lãnh đối ứng
Bảo lãnh đối ứng là bảo lãnh do tổ chức tín dụng (bên phát hành bảo lãnh đối
ứng) phát hành nhằm đề nghị một tổ chức tín dụng khác thực hiện bảo lãnh cho các
nghĩa vụ của khách hàng của bên phát hành bảo lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh.
- Đồng bảo lãnh:
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
Đó là việc có nhiều tổ chức tín dụng cùng bảo lãnh cho một nghiệp vụ của
khách hàng thông qua một tổ chức tín dụng làm đầu mối.
- Tái bảo lãnh
Là việc của tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh lại hợp đồng mà một tổ chức tín
dụng khác đã bảo lãnh rồi. Qua đó thì haii tổ chức tín dụng này sẽ phải thỏa thuận để
phân chia phí và trách nhiệm trong cam kết của bão lãnh đó.
- Xác nhận bảo lãnh
Xác nhận bảo lãnh là bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng (bên xác nhận
bảo lãnh) phát hành cho bên nhận bảo lãnh và phải đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng được xác nhận bảo lãnh (bên được xác nhận bảo
lãnh) với khách hàng.
b.Căn cứ vào mục đích của bảo lãnh
- Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh đảm bảo thanh toán chính là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh
toán tiền theo đúng hợp đồng cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng
không thanh toán đủ.
- Bảo lãnh hoàn thanh toán (bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước)
Trong khi thực hiện hoạt động giao dịch mua bán thì có nhiều nhà cung cấp
thường yêu cầu khách hàng phải đặt cọc trước một phần tiền trong giá trị hợp đồng.
- Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu
Bảo lãnh dự thầu là loại bảo lãnh ngân hàng do chính ngân hàng phát hành cho
bên mời thầu cam kết sẽ trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm
các quy định trong hợp đồng dự thầu.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Đây là một loại cam kết của ngân hàng về việc sẽ chi trả những tổn thất thay
cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng đã
được cam kết gây tổn thất cho bên thứ ba.
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
Sử dụng bảo lãnh thực hiện hợp đồng một mặt để bù đắp một phần tổn thất
cho bên thứ ba, mặt khác thúc đẩy khách hàng nghiêm chỉnh thực hiện hợp đồng.
- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm
Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm là bảo lãnh ngân hàng được phát hành
bởi tổ chức tín dụng cho bên nhận bảo lãnh để đảm bảo khách hàng sẽ thực hiện đúng
các thỏa thuận về chất lượng sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo
lãnh.
- Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay là cam kết của ngân hàng đối với bên cho
vay về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn trong trường hợp khách hàng của ngân hàng
không thanh toán đủ. Ngày nay trong thị trường vốn của quốc tế thì việc vay vốn nhất
thiết cần phải có bảo lãnh vay vốn. Sở dĩ như thế là do rủi ro của thị trường này trở
lên ngày càng cao.
- Bảo lãnh bảo hành
Bảo lãnh bảo hành là loại bảo lãnh nhằm đảm bảo nghĩa vụ của nhà sản xuất
trong giai đoạn bảo hành khi việc cung cấp hàng hóa đã hoàn thành.Bảo lãnh bảo
hành có thể được phát hành để thay thế cho tiền giữ lại cho giai đoạn bảo hành.
- Bảo lãnh hải quan
Bảo lãnh hải quan là bảo lãnh mà ngân hàng sẽ đứng ra bảo lãnh cho doanh
nghiệp với tổ chức thuế quan về việc tạm nhập hàng hoá, giúp doanh nghiệp không
phải xuất quỹ nộp thuế hải quan. Trong trường hợp nếu quá thời hạn quy định trong
hợp đồng quy định mà hàng hóa, máy móc vẫn không được tái xuất thì ngân hàng sẽ
phải chấp nhận trả tiền phạt thay thế cho bên được bảo lãnh.
- Bảo lãnh mở L/C
Bảo lãnh mở L/C là một loại hình đặc biệt do nó mang đặc thù của loại hoạt
động thanh toán quốc tế. Do đó mà ngân hàng thường không tính đến doan số bảo
lãnh mở L/C vào doanh số bảo lãnh thông thường của ngân hàng mà được tính vào
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
doanh số hoạt động thanh toán quốc tế. Bảo lãnh mở L/C trả chậm về bản chất là bảo
lãnh vay vốn nước ngoài.
c.Căn cứ vào điều kiện thanh toán của bảo lãnh
- Bảo lãnh theo yêu cầu
Bảo lãnh theo yêu cầu là một cam kết của ngân hàng bảo lãnh trả ngay một số
tiền bồi thường cho người hưởng lợi khi nhận được khiếu nại đầu tiên chỉ rõ được
quyền lợi của người bị vi phạm do bên xin bảo lãnh vi phạm hợp đồng mà không cần
có bất cứ loại giấy tờ chứng minh nào cả. Loại bảo lãnh này tuân theo nguyên tắc “trả
tiền trước, kiện cáo sau”.
- Bảo lãnh kèm chứng từ
Đây là bảo lãnh mà ngân hàng chỉ tiến hành thanh toán cho người thụ hưởng
khi người thụ hưởng xuất trình cho ngân hàng các chứng từ xác nhận hành vi vi phạm
hợp đồng của bên được bảo lãnh.
- Bảo lãnh kèm phán quyết của trọng tài hoặc tòa án
Bảo lãnh kèm phán quyết của trọng tài hoặc tòa án là loại bảo lãnh mà ngân
hàng cam kết thanh toán cho người thụ hưởng khi họ cung cấp cho ngân hàng một
phán quyết của trọng tài hoặc toà án về việc vi phạm hợp đồng của người được bảo
lãnh.
d.Căn cứ vào thời hạn bảo lãnh: có 4 loại bảo lãnh
- Bảo lãnh ngắn hạn
Là những bảo lãnh có thời hạn bảo lãnh dưới 1 năm. Do bảo lãnh thanh toán
có rủi ro cao mà vì vậy ngân hàng thường chỉ đi tiến hành bảo lãnh ngắn hạn.
- Bảo lãnh trung hạn
Bảo lãnh trung hạn là những bảo lãnh ngân hàng có thời hạn bảo lãnh từ 1-5
năm.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng do thường được áp dụng trong lĩnh vực xây
dựng cơ bản nên thường là bảo lãnh trung hạn.
- Bảo lãnh dài hạn
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Phan Kim Chiến
Bảo lãnh dài hạn là những bảo lãnh ngân hàng có thời hạn bảo lãnh từ 5 năm
trở lên. Theo quốc tế có thể là từ 7 năm trở lên.Trên thực tế nó thường chiếm số
lượng rất ít trong các loại bảo lãnh bởi rủi ro của nó là rất cao.
-Gia hạn bảo lãnh
Gia hạn bảo lãnh là việc ngân hàng đồng ý sẽ kéo dài thêm thời hạn bảo lãnh
cho khách hàng do yêu cầu của khách hàng, nó xuất phát từ những nguyên nhân
khách quan khiến cho khách hàng của ngân hàng chưa thể thực hiện hợp đồng với
bên thứ ba. Với điều kiện là có sự chấp thuận từ hai phía bên thứ ba và yêu cầu của
khách hàng thì ngân hàng sẽ đồng ý gia hạn bảo lãnh cho khách hàng của mình.
e.Căn cứ vào hình thức phát hành cam kết bảo lãnh
- Phát hành cam kết bảo lãnh bằng hợp đồng bảo lãnh
Phát hành cam kết bảo lãnh bằng hợp đồng bảo lãnh là việc mở hợp đồng
trong đó thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng và bên nhận bảo lãnh hoặc
giữa tổ chức tín dụng, bên nhận bảo lãnh, khách hàng và các bên liên quan (nếu có).
Trong hợp đồng bảo lãnh sẽ có cam kết của tổ chức tín dụng về việc tổ chức tín dụng
sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
- Phát hành cam kết bảo lãnh bằng thư bảo lãnh
Phát hành cam kết bảo lãnh bằng thư bảo lãnh là loại cam kết mang tính đơn
phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
1.4 Quy trình bảo lãnh của ngân hàng
(1) Khách hàng ký kết các hợp đồng với bên thứ ba về thanh toán, xây
dựng, vay vốn,… Bên thứ ba yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng.
Nguyễn Thị Lan Ngọc Kinh tế và quản lý công
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét