LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh hải dương đến năm 2015": http://123doc.vn/document/1041986-giai-phap-tang-cuong-thu-hut-nguon-von-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-cua-tinh-hai-duong-den-nam-2015.htm
Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO) : đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một
nhà đầu tư từ một nước (chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước nhận đầu tư)
cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các
công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó
quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư
thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con'' hay chi
nhánh công ty.
Tóm lại, FDI là một trong các hình thức đầu tư quốc tế mà các nhà đầu tư (tư nhân, có
thể có chính phủ tham gia đầu tư) ở nước ngoài bỏ vốn (tiền, công nghệ, chuyên gia )
của họ vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, để trực tiếp hoặc cùng vời nước sở tại (nước
nhận đầu tư) điều hành đối tượng bỏ vốn đầu tư, hưởng lợi nhuận và cùng chia sẻ rủi ro.
1.2 Đặc điểm của FDI
FDI là một bộ phận của đầu tư nước ngoài, phạm vi hoạt động ra khỏi lãnh thổ của
quốc gia đó. Do đó, trong quá trình hoạt động các nhà đầu tư phải tuân thủ các quy định
pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư và FDI mang các đặc điểm sau :
Thứ nhất, nhà đầu tư cần phải tuân theo các quy định, tôn trọng văn hóa, phong tục tập
quán và pháp luật của chính nước sở tại. Tuy nhiên khác với nguồn vốn viện trợ phát
triển chính thức (ODA) là FDI không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào về chính trị giữa hai
quốc gia (giữa quốc gia đi đầu tư và quốc gia tiếp nhận đầu tư) với nhau. Thực chất nó
chỉ đơn thuần là hoạt động bỏ vốn đầu tư và thu lợi nhuận của nhà đầu tư, chỉ chịu sự
ràng buộc về mặt kinh tế, không chịu ràng buộc về chính trị.
Thứ hai, FDI là hình thức đầu tư bằng vốn của Chính phủ, doanh nghiệp hoặc tư nhân
nước ngoài. Nhà đầu tư sẽ trực tiếp quản lý, tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất tại
nước tiếp nhận đầu tư. Ngoài ra thì nhà đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả
sản xuất kinh doanh của mình. Lợi nhuận của nhà đầu tư thu được sẽ phụ thuộc vào khả
năng sản xuất kinh doanh của lĩnh vực được đầu tư. Thông thường, lợi nhuận này sẽ
không ổn định.
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ ba, quyền quản lý, lợi nhuận được hưởng và trách nhiệm của nhà đầu tư được
tuân theo tỷ lệ góp vốn. Nghĩa là, nhà đầu tư nào có tỷ lệ vốn góp cao thì nhà đầu tư đó sẽ
nắm quyền quản lý. Do vậy thông qua tỷ lệ này, nhiều lĩnh vực kinh doanh không muốn
nhà đầu tư nắm quyền hạn chính thì phải quy định tỷ lệ đóng góp tối đa cho nhà đầu tư
đó. Khi đó, nắm quyền chính trong quản lý là các nhà đầu tư trong nước chứ không phải
là nhà đầu tư nước ngoài, đó là để thực hiện mục tiêu chính trị khác.
Thứ tư, mục tiêu chính luôn được các nhà đầu tư quan tâm đó là lợi nhuận. Do vậy,
nguồn vốn FDI sẽ tập trung nhiều ở các ngành, lĩnh vực mang lại tỷ suất lợi nhuận cao.
Các nhà đầu tư thường đầu tư vào các lĩnh vực mới tại nước sở tại (nhưng là lĩnh vực cũ
của nước đầu tư ) để tìm kiếm thị trường mới hoặc dựa trên những lợi thế về chi phí rẻ
của nước tiếp nhận đầu tư như : chi phí nhân công, chi phí tài nguyên…để thu được lợi
nhuận cao nhất có thể.
Thứ năm, tồn tại hai chiều trong hoạt động đầu tư nước ngoài, nghĩa là một nước, quốc
gia có thể tiếp nhận đầu tư từ nước khác nhưng đồng thời cũng có thể đầu tư sang nước
khác. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nó khác với nguồn vốn viện trợ, nguồn vốn
viện trợ thường từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, nhưng FDI thì có
thể từ nước đang phát triển sang các nước phát triển và ngược lại. Tại sao lại có như
vậy ? Bởi các nước có kinh tế phát triển cũng chưa thể giải quyết được hết các vấn đề
kinh tế-xã hội. Còn có nhiều lĩnh vực mà các nhà đầu tư không muốn tham gia do tỷ suất
lợi nhuận thấp (so với nước đó nhưng tỷ suất này vẫn cao hơn sơ với các nước đang phát
triển). Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn FDI chảy vào các nước phát
triển.
2. Các hình thức của FDI
Đầu tư FDI tồn tại dưới nhiều hình thức, song có những hình thức chủ yếu sau đây :
Một là hợp đồng hợp tác kinh doanh : là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi
là bên hợp doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một
pháp nhân. Hình thức đầu tư này xuất hiện sớm ở Việt Nam và là hình thức đầu tư nước
ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm. Các sản phẩm có kỹ
thuật cao đòi hỏi phải có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác
nhau. Đây cũng thể hiện xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh của sự phân công lao
động chuyên môn hoá sản xuất trên phạm vi quốc tế.
Hai là doanh nghiệp liên doanh : là loại hình DN do hai bên hoặc các bên nước ngoài
hợp tác với nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và
cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. DN liên doanh được thành lập theo hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua hợp tác liên doanh với các đối tác Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài tranh
thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam trên thị trường mà họ
chưa quen biết trong quá trình kinh doanh của họ tại Việt Nam. Mặt khác, do môi trường
đầu tư của Việt Nam còn có nhiều bất chắc nên các nhà đầu tư không muốn gánh chịu rủi
ro mà muốn các đối tác Việt Nam cùng chia sẻ với họ nếu có. Liên doanh với đối tác bản
địa, các nhà đầu tư yên tâm hơn trong kinh doanh hơn vì họ đã có một người bạn đồng
hành, nếu có khó khăn lien quan tới pháp luật trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ
cũng giải quyết dễ dàng hơn.
Ba là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài : là DN thuộc sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại
nước sở tại,trên cơ chế hoạt động tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất
kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức
của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân. Hình thức này ở giai đoạn đầu
chưa có nhiều, nhưng xu hướng hiện nay thì các dự án đầu tư theo hình thức này ngày
càng mạnh mẽ.Và đang có hiện tượng chuyển đổi từ hợp đồng hợp tác kinh doanh sang
doanh nghiệp 100% có vốn đầu tư nước ngoài.
Ngoài những hình thức đầu tư nêu trên, còn một vài hình thức đầu tư 100% vốn nước
ngoài khác như BOT (xây dựng- kinh doanh- chuyển giao), BTO (xây dựng – chuyển
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
giao – kinh doanh), BT (xây dựng – chuyển giao)
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút nguồn vốn FDI
Trong quá trình sử dụng FDI có nhiều nhân tố khác nhau tác động lên nó. Có nhiều
nhân tố giúp tăng hiệu quả sử dụng nhưng cũng có những nhân tố làm kìm hãm hiệu quả
hoạt động của nguồn vốn này. Bao gồm :
3.1 Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên của nước tiếp nhận đầu tư.
Vị trí địa lý bao gồm: các yếu tố về tự nhiên, địa hình, khí hậu, nguồn tài nguyên khoáng
sản, đất đai. Vị trí địa lý có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động và lĩnh vực đầu tư. Nó
quyết định đến cơ cấu nguồn vốn đối với từng thành phần kinh tế và số lượng ngành nghề
sản xuất, quyết định tới cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của các nhà đầu tư . Vị
trí địa lý thuận lợi sẽ giúp cho việc giao lưu, trao đổi hàng hoá giữa trong và ngoài nước
diễn ra một cách tích cực hơn, giảm bớt được chi phí sản xuất cho nhà sản xuất và do đó
làm tăng khoản lợi nhuận thu được của nhà đầu tư. Đi kèm cùng với yếu tố vị trí địa lý,
nhà đầu tư nước ngoài cũng luôn quan tâm tới điều kiện tự nhiên của nước tiếp nhận đầu
tư. Bởi vì điều kiện tự nhiên là tác động khách quan vào quá trình sản xuất, chúng ta chỉ
có thể hạn chế tác động đó chứ không thể làm thay đổi tác động đó. Do đó cần hiểu rõ
điều kiện tự nhiên để nắm bắt được tác động tích cực để tận dụng và tác động tiêu cực để
phòng tránh, giảm thiểu tới mức tối đa độ rủi ro do điều kiện tự nhiên mang lại (nhất là
các ngành phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên như : ngành trồng trọt, nuôi trồng thuỷ
sản ).
3.2 Môi trường kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô bao gồm các yếu tố: lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng…
có thể nói rằng một môi trường ổn định và lành mạnh là một trong những nhân tố quan
trọng nhất để các nhà đầu tư phân tích, đánh giá thị trường và ra các quyết định đầu tư.
Đây là điều kiện chi phối mạnh mẽ ý định và hành vi của nhà đầu tư nước ngoài. Một
nước có môi trường vĩ mô ổn định có tác động tích cực và lan tỏa trong phát triển kinh tế
xã hội. Thông thường nguồn vốn đầu tư thường ổn định và có xu hướng gia tăng, hiệu
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
quả sản xuất cao hơn mang lại lợi ích nhiều hơn không chỉ đối với nhà đầu tư mà còn đối
với nền kinh tế nước sở tại. Tuy nhiên, nếu môi trường vĩ mô không ổn định, thường
xuyên phải đối mặt với tình trạng lạm phát, khủng hoảng và thất nghiệp, sẽ tạo ra tâm lý
không tốt cho các nhà đầu tư về quyết định đầu tư và kinh doanh của mình. Nhà đầu tư
sẽ e ngại, thậm chí sẽ không dám đầu tư vào nước có môi trường kinh tế vĩ mô không tốt.
Do đó, làm cho lượng vốn FDI giảm dần và hiệu quả hoạt động kinh doanh giảm sút.
3.3 Nguồn lực phục vụ cho các dự án dược đầu tư
Nguồn lực phục vụ cho việc triển khai các dự án đầu tư bao gồm: lực lượng lao động,
tài chính, tài nguyên thiên nhiên…tác động trực tiếp đến quá trình sử dụng nguồn vốn
FDI.
Quy mô, giá cả và chất lượng lao động vừa là nhân tố để thu hút vừa là nhân tố sử dụng
hiệu quả nguồn vốn FDI. Bởi con người là chủ thể của các quan hệ xã hội, là “yếu tố
động” tác động lên tư liệu sản xuất, cải tạo tư liệu lao động nâng cao sự phát triển của tư
liệu lao động lên tầm cao mới, tiến bộ hơn. Vì lẽ đó, lao động ở nước sở tại được các nhà
đầu tư hết sức quan tâm. Một quốc gia có đội ngũ lao động dồi dào, có trình độ cao
thường thu hút một lượng lớn các nhà đầu tư nước ngoài. Một đội ngũ lao động có trình
độ thấp, kỷ luật lao động không tốt thì dù giá nhân công có rẻ các nhà đầu tư vẫn phải cân
nhắc ra quyết định đầu tư, bởi lẽ hiệu quả và năng suất lao động của doanh nghiệp sẽ bị
ảnh hưởng. Vì vậy, nước tiếp nhận đầu tư phải chủ động, tích cực nâng cao trình độ dân
trí của người lao động thông qua các chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo nhằm để
không chỉ đáp ứng nhu cầu lao động cho nhà ĐTNN mà còn tiến tới chủ động nắm bắt
khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến để có thể tự mình đứng vững xây dựng và
quản lý xã hội trong tương lai.
Đầu tư không chỉ hướng tới nguồn lao động mà còn hướng tới các nguồn lực khác
trong nền kinh tế như cơ sở hạ tầng, nguồn tài nguyên, tài chính Các hoạt động của nhà
đầu tư sẽ diễn ra một cách dễ dàng hơn khi nước sở tại có một hệ thống cơ sở hạ tầng
như: điện, nước, hệ thống giao thông, xử lý chất thải …phục vụ cho phát triển kinh tế xã
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
hội. Nếu một quốc gia vững mạnh về tài chính, giàu tài nguyên thiên nhiên là điều kiện
tốt để các nhà đầu tư tham gia đầu tư hoạt động sản xuất kinh doanh của họ.
3.4 Các điều kiện về chính trị - xã hội khác
Những điều kiện chính trị khác bao gồm các yếu tố về an ninh quốc phòng, môi
trường pháp lý, phong tục tập quán, chính sách phát triển kinh tế-xã hội Ở Việt Nam sự
tồn tại của một đảng duy nhất với quan diểm nhất quán tạo ra sự ổn định về tâm lý cho
các nhà đầu tư, họ không phải chịu áp lực nhiều trong việc thay đổi cơ chế hoạt động của
bộ máy chính quyền. Không vấp phải sự tranh đấu giữa các chính đảng gây bất ổn chính
trị. Sự ổn định về pháp lý giúp cho các doanh nghiệp hoạt động một cách suôn sẻ. Sự ổn
định trong chính sách pháp luật có tác động mạnh tới quá trình sản xuất, sự phát triển của
doanh nghiệp, đến cơ cấu sản phẩm, khối lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Đồng thời
phong tục tập quán có tác động mạnh tới sản phẩm tiêu dùng, cơ cấu của doanh nghiệp.
Khi nhà đầu tư hiểu đúng được thói quen sinh sống, tập quán của người dân thì sẽ đưa ra
các chính sách phát triển và đầu tư đúng hướng, đồng thời tạo được mối quan hệ tốt với
người dân. Địa phương có phong tục ổn định, lành mạnh, không có những thủ tụ, luật lệ
hà khắc, có sự thông thoáng trong quan niệm sống sẽ góp phần tạo thuận lợi cho các nhà
đầu tư trong việc sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, những chính sách được sử
dụng đối với FDI cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc thu hút nguồn vốn FDI. Kế hoạch
phát triển kinh tế -xã hội quy định mức độ tham gia của các doanh nghiệp đầu tư nước
ngoài. Kế hoạch hóa phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia xác định rõ các mục tiêu mà
quốc gia đó cần đạt được, vươn tới trong một giai đoạn nhất định. Nó sẽ quyết định việc
sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế, nó quyết định vai trò của từng thành phần kinh tế
từ đó quy định được mức độ tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tùy thuộc vào lĩnh vực ưu tiên của mỗi quốc gia và mỗi địa phương mà có chính sách ưu
tiên đối với các nhà đầu tư để thu hút họ vào những lĩnh vực phát huy thế mạnh của địa
phương, của quốc gia mình. Nếu các chính sách đó thuận lợi thì giúp cho hoạt động sản
xuất của các nhà đầu tư đạt hiệu quả cao và các nhà đầu tư cũng dễ dàng hơn trong việc
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
ra quyết định đầu tư.
II. Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế-xã hội
FDI có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của quốc gia, bao gồm cả
nước tiếp nhận đầu tư và cả nước đi đầu tư. Đối với nước tiếp nhận đầu tư (trong đó có
Việt Nam) FDI trong những năm qua đã có vai trò tích cực trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Nó góp phần vào làm tăng trưởng kinh tế, thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nguồn thu ngân sách, giảm thâm hụt cán cân thương
mại… Đồng thời thực hiện các mục tiêu xã hội như: giải quyết bài toán việc làm, nâng
cao mức thu nhập của người dân từ đó dẫn đến sự tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục,
chăm sóc sức khỏe…Nhưng bên cạnh những tác động tích cực mà nguồn vốn FDI tác
động tới nền kinh tế thì cũng có không ít tác động tiêu cực nếu chúng ta không có nhìn
nhận đúng đắn về nguồn vốn này.
1. Với phát triển kinh tế
Trước tiên FDI góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn của các nước tiếp nhận đầu
tư. Hầu hết các nước có thu nhập thấp đều rơi vào cái ‘vòng luẩn quẩn’. Thu nhập thấp
thì tiết kiệm thấp dẫn đến đầu tư thấp, đầu tư thấp lại dẫn đến thu nhập thấp. Bên cạnh
đó, trong điều kiện khoa học thế giới phát triển như giai đoạn hiện nay, việc đầu tư mua,
đổi mới công nghệ sản xuất đang là vấn đề cấp thiết. Nhưng muốn ‘chạy đua’ công nghệ
trong quá trình sản xuất như vậy thì cần có nguồn vốn lớn, mà thực tế nguồn vốn trong
nước không đáp ứng đủ vì kinh tế phát triển yếu, tích lũy nội bộ không cao. Chính vì vậy
mà nguồn vốn FDI thực sự là cần thiết để giải bài toán thiếu vốn của các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam. Từ khi phát hành bộ luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam phần nào thoát khỏi tình trạng thiếu hụt vốn đầu tư dần nâng cấp các cơ sở sản xuất
kinh doanh. Nhờ nguồn vốn này các nước tiếp nhận có thể tiến hành các hoạt động đầu tư
vào các lĩnh vực mới, mở rộng hoạt động sản xuất mà trước đây chưa có điều kiện phát
triển.
Hai là, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước. Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang
phát triển muốn thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Đây cũng là điểm nút để các nước đang phát triển thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự
nghèo đói. Thật vậy, mức tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng
đầu tư, nhờ đó các nhân tố khác như tổng số vốn lao động được sử dụng cũng tăng,
nhưng mức tăng của lao động nhỏ hơn mức tăng của sản lượng, do đó năng suất lao động
tăng. Năng suất lao động là yếu tố có vai trò quyết định để tăng tỷ trọng của ngành trong
nền kinh tế. Tỷ trọng của ngành thay đổi tức là cơ cấu kinh tế đã được thay đổi. Và sự
thay đổi này theo xu thế chung của các nước đang phát triển, đó là tăng tỷ trọng của
ngành sử dụng nhiều vốn, giảm tỷ trọng của ngành sử dụng nhiều lao động. Trong những
năm gần đây Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng kể trong tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Hình 1.1 Đóng góp của khu vực FDI trong GDP và cơ cấu kinh tế theo khu
vực ngành của Việt Nam
Nhìn vào hình 1.1 có thể nhận thấy, cùng với mức đóng góp của khu vực FDI
trong kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của khu vực công nghiệp. Kết quả
này thể hiện tăng hiệu quả và chất lượng phát triển kinh tế do năng suất lao động của khu
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
vực công nghiệp cao góp phần tăng năng suất chung của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam.
Trong suốt hai thập kỷ qua, khu vực có vốn FDI chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong
GDP. Năm 2007, khu vực FDI đóng góp 13,26% trong GDP (giá so sánh 1994) so với tỷ
lệ 3,76% năm 1991. Bên cạnh đó, khu vực có vốn FDI luôn dẫn đầu về tốc độ tăng giá trị
gia tăng so với khu vực kinh tế khác và là khu vực phát triển năng động nhất. Tốc độ tăng
giá trị gia tăng của khu vực này luôn cao hơn mức trung bình của cả nước. Mức đóng góp
của khu vực FDI vào GDP của Việt Nam ngày càng cao đã tạo ra sự thay đổi trong cơ
cấu ngành, tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP có xu hướng giảm dần và tỷ trọng
công nghiệp ( nhất là công nghiệp chế biến ) và dịch vụ có xu hướng tăng dần ( hình 1.1)
Ba là, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ. Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết
định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát
triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ. Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ
luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia. Tuy
nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải có một
trình độ phát triển của khoa học -kỹ thuật. Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi
là nguồn vốn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước nhận đầu tư. Vai trò
này thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào
và sự phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ
nhà. Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư
nước ngoài.
Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện thông qua
các công ty xuyên quốc gia (TNC), dưới hình thức chuyển giao trong nội bộ các chi
nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC. Phần lớn công
nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sang nước tiếp nhận đầu tư (nhất
là các nước đang phát triển được thông qua các doang nghiệp 100% vốn nước ngoài và
doanh nghiệp liên doanh mà bên nhà nước nắm phần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ
yếu như tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công nghệ marketing Mặt khác, trong
quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh nghiệp liên doanh) các
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
13
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo từ công nghệ gốc, sau đó cải
biến cho phù hợp với điều kiện của nước mình. Đây là một trong những tác động tích cực
quan trọng của FDI đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển.
Bốn là, tác động lan tỏa của ĐTNN đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ĐTNN được nâng cao qua số lượng các doanh
nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất. Đồng thời, có tác động lan tỏa đến các
thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN
với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ
doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp
trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành. Mặt
khác, các doanh nghiệp ĐTNN cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Năm là, góp phần cải thiện cán cân thương mại, huy động khối lượng ngoại tệ lớn cho
phát triển kinh tế. FDI có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sản lượng xuất khẩu và
nhờ đó cải thiện được cán cân thanh toán. Xuất khẩu là một biện pháp quan trọng trong
tăng trưởng kinh tế, đối với các nước đang phát triển thì cán cân xuất nhập khẩu luôn
trong tình trạng thâm hụt, tức là giá trị hàng nhập khẩu lớn hơn giá trị hàng xuất khẩu.
FDI đã góp phần hạn chế tình trạng thâm hụt.
Sáu là, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. FDI làm tăng nguồn thu cho ngân
sách thông qua những khoản thu từ thuế. Ta thấy cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước
bao gồm: thu từ kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài và các nguồn thu khác. Dòng vốn FDI hiện nay có xu hướng ngày càng gia tăng,
kéo theo tỷ trọng kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gia tăng và do đó cơ cấu nguồn thu
của ngân sách nhà nước cũng có những biến đổi nhất định. Nguồn thu từ các thành phần
kinh tế Nhà nước có xu hướng giảm, kinh tế đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng. Nhưng
tổng thu của ngân sách nhà nước tăng lên, giúp thực hiện các khoản chi của ngân sách
nhằm bảo đảm cho sự hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ xã hội
khác.
Nguyễn Thị Xuân – Kinh tế phát triển 48B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét