CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường vận hành theo chế độ
xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước, vì vậy với các doanh nghiệp để tồn
tại và phát triển, có vị trí đứng vững trên thị trường, yêu cầu đạt ra cho các doanh
nghiệp là cần đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu nắm bắt kịp thời nhu cầu thị trường.
Đó là những yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành - bại của doanh nghiệp.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường hiện nay đã đưa các
doanh nghiệp Việt Nam đến trước một thách thức đó là làm thế nào để có một tình
hình tài chính lành mạnh làm xuất phát điểm để đứng vững trên thị trường, đạt
đuợc mục tiêu đề ra, do vậy doanh nghiệp thực sự phải quan tâm đến hiệu quả sử
dụng các nguồn lực hiện có, đặc biệt là TSCĐ của doanh nghiệp.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi doanh nghiệp
có thể có các phương thức sử dụng và bảo toàn vốn khác nhau. Trong điều kiện
kinh tế thị trường các phương thức sử dụng vốn được đa dạng hoá, giải phóng các
nguồn tài chính trong nền kinh tế, thúc đẩy, thu hút vốn vào các doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì vốn cố định được sử dụng rất phong
phú, đa dạng và có giá trị lớn, vì vậy việc sử dụng chúng sao cho có hiệu quả là
một nhiệm vụ khó khăn.
Vốn cố định nếu được sử dụng đúng mục đích, phát huy được năng suất
làm việc kết hợp với công tác quản lý sử dụng VCĐ như đầu tư, bảo quản, sửa
chữa, kiểm kê, đánh giá được tiến hành một cách thường xuyên, có hiệu quả thì sẽ
góp phần tiết kiệm tư liệu sản xuất, nâng cao cả về số lượng và chất lượng sản
phẩm sản xuất. Như vậy doanh nghiệp sẽ thực hiện được mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận của mình.
Đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty
TNHH THƯƠNG MẠI &DỊCH VỤ TỔNG HỢP NHÀ SẠCH " nhằm mục đích
phân tích thực trạng quản lý, sử dụng VCĐ trong thời kỳ đổi mới.
5
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Trong quá trình học tập và thực tập tại Công ty TNHH TM&DVTH NHÀ
SẠCH, được nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý, sử dụng VCĐ của Công ty.
Em đã quyết định chọn đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
tại Công ty TNHH TM&DVTH NHÀ SẠCH" làm chuyên đề thực tập.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của Chuyên đề gồm có 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng vốn cố định
của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng VCĐ ở Công ty TNHH
TM&DVTH NHÀ SẠCH từ năm 2008 – 2010.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ ở Công ty
TNHH TM&DVTH NHÀ SẠCH trong thời gian tới.
Trong thời gian thực tập và viết chuyên đề em đã nhận được sự giúp đỡ của
Thầy giáo Nguyễn Mạnh Hùng, Ban giám đốc, phòng kế toán Công ty TNHH
TM&DVTH NHÀ SẠCH đã tạo điều kiện, giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Song do phạm vi nghiên cứu và thời gian có hạn nên chuyên đề của em không
tránh khỏi những sai sót.Vì vậy em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các
thầy cô để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
6
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát chung về vốn cố định của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản như: Sức lao động, đối tượng lao
động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng
ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị
tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích
sinh lời.
Như vậy có thể thấy vốn kinh doanh chính là điều kiện tiên quyết đối với sự
ra đời và phát triển của một doanh nghiệp trong nền kinh tế hiện nay. Bởi vậy, làm
thế nào để bảo toàn và phát triển được vốn ban đầu sẽ là bài toán luôn cần đáp số
hay của các nhà quản trị trên con đường khẳng định vị trí của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là
các hoạt động trao đổi, là quá trình chuyển biến các tài sản trong doanh nghiệp
theo chu trình tiền, tài sản - tiền.
Như vậy vốn cố định ở đây phải hiểu là các yếu tố kinh tế cả hữu hình lẫn vô
hình mà doanh nghiệp nắm giữ, quản lý, sử dụng để mang lại lợi ích cho doanh
nghiệp.
Trong doanh nghiệp, vốn được chia làm 2 loại: Vốn cố định (VCĐ) và Vốn
lưu động (VLĐ).
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước mà
đặc điểm của nó là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, chu chuyển giá trị dần dần
từng phần sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
7
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Vốn cố định là loại vốn thường chiếm tỷ trọng lớn và có vị trí khá quan
trọng đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế, nhất là đối với các doanh nghiệp
sản xuất. Do đó, các doanh nghiệp luôn phải quan tâm đến vấn đề bảo toàn và phát
triển loại vốn này. Việc quản lý, sử dụng VCĐ có tốt hay không liên quan đến
nhiều chu kỳ của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiện tại và trong tương lai.
1.1.1. Vốn cố định của doanh nghiệp.
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm VCĐ của doanh nghiệp.
* Khái niệm:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc mua sắm xây dựng hay lắp đặt
các TSCĐ của doanh nghiệp đều phải thanh toán chi trả bằng tiền. Để có đực
TSCĐ hữu hình, vô hình đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp phải ứng trước một lượng vốn tiền tệ để đầu tư vào các TSCĐ đó. Số vốn
đầu tư ứng trước vào TSCĐ gọi là VCĐ của doanh nghiệp. Sở dĩ gọi là vốn đầu tư
ứng trước vì số vốn này dùng mua TSCĐ, nếu sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi
mà doanh nghiệp sẽ thu lại được sau khi bán sản phẩm, hàng hoá do TSCĐ tạo ra
sau nhiều chu kỳ sản xuất.
VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ
mà đặc điểm của nó là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, chu kỳ chu chuyển giá
trị dần dần từng phẩn sau mỗi chu kỳ và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ
hết thời gian sử dụng.
* Đặc điểm:
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc điểm này của VCĐ xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là có giá trị lớn, thời gian
sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- VCĐ được luân chuyển dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, TSCĐ bị hao mòn, bị giảm giá trị sử
dụng giá trị TSCĐ được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm. Bộ phận giá trị này cấu
thành chi phí sản xuất của doanh nghiệp (Dưới hình thức chi phí khấu hao) và sẽ
được thu hồi lại sau khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, gọi là tiền khấu hao. Các
8
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
chu kỳ sản xuất tiếp theo, TSCĐ bị hao mòn càng tăng, phần giá trị TSCĐ chuyển
dịch vào sản phẩm càng lớn, số khấu hao luỹ kế tăng, phần giá trị TSCĐ chuyển
dịch vào sản phẩm càng lớn, số khấu hao luỹ kế tăng, phần giá trị còn lại của
TSCĐ (biểu hiện của VCĐ) càng giảm. Cho đến khi số khấu hao luỹ kế bằng VCĐ
bỏ ra ban đầu thì coi là TSCĐ đã khấu hao hết. Như vậy, quá trình sử dụng TSCĐ
cũng đồng thời là quá trình luân chuyển dần VCĐ vào giá trị sản phẩm qua các chu
kỳ sản xuất.
- VCĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau nhiều chu kỳ sản xuất khi TSCĐ
hết thời gian sử dụng.
Đặc điểm luân chuyển của VCĐ đòi hỏi việc quản lý VCĐ phải luôn gắn
liền quản lý về mặt giá trị với quản lý hình thái hiện vật của nó, tức là các TSCĐ
của doanh nghiệp.
VCĐ là khoản vốn dài hạn và thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp nên nó không chỉ ảnh hưởng đến một chu kỳ sản xuất
kinh doanh mà nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để đi vào hoạt
động, doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản tiền đầu tư rất lớn để mua sắm máy móc
thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, nhân công Khoản chi phí nguyên vật liệu,
nhân công, doanh nghiệp có thể thu lại được toàn bộ ngay sau khi kết thúc một chu
kỳ sản xuất kinh doanh những khoản chi phí về TSCĐ chỉ bù đắp toàn bộ sau khi
TSCĐ hết thời gian sử dụng. Tức là phải sau một thời gian dài tính bằng nhiều chu
kỳ sản xuất kinh doanh. Bởi vậy, nếu không quản lý tốt VCĐ sẽ dẫn đến thất thoát
VCĐ, nghĩa là thất thoát một lượng đáng kể vốn kinh doanh. Như vậy, doanh
nghiệp không thể có hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt nếu không sử dụng tốt một
trong các nguồn lực là vốn kinh doanh nói chung và VCĐ nói riêng.
1.1.1.2. Phân loại VCĐ của doanh nghiệp
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao
gồm các bộ phận chủ yếu như:
- Vốn góp ban đầu: khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh
nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu
góp. Khi nói đến nguồn vốn của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình
9
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và
hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp.
- Vốn từ lợi nhuận không chia: Quy mô số vồn ban đầu của chủ doanh
nghiệp là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên thông thường, số vốn này cần được tăng
theo quy mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất -
kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những
điều kiện thuận lợi để tăng trưởng nguồn vốn. Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận
không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt sự phụ
thuộc bên ngoài.
- Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp có thể tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Một nguồn tài
chính dài hạn rất quan trọng là phát hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh
nghiệp.
1.1.2.Quản lý vốn cố định của doanh nghiệp.
* Mục tiêu:
VCĐ của doanh nghiệp có thể sử dụng cho mục đích đầu tư dài hạn và kinh
doanh thường xuyên. Để quản lý và sử dụng có hiệu quả VCĐ của doanh nghiệp
thì phải quản lý tốt cả hai hoạt động này. Đặc biệt là đối với hoạt động kinh doanh
thường xuyên phải có biện pháp bảo toàn và phát triển được VCĐ của doanh
nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Bảo toàn VCĐ là duy trì và giữ vững được sức mua của đồng VCĐ ban đầu
để khi kết thức một vòng tuần hoàn của VCĐ thì vốn được tái lập ít nhất có thể
duy trì và giữ vững được như mức ban đầu.
* Nội dung:
Xuất phát từ đặc điểm luân chuyển VCĐ, để quản lý tốt VCĐ phải quản lý
trên cả 2 nội dung sau:
- Quản lý về mặt hiện vật: Tức là quản lý TSCĐ
- Quản lý về mặt giá trị: Tức là quản lý việc trích khấu hao, sử dụng quỹ
khấu hao của doanh nghiệp và quản lý giá trị còn lại của các TSCĐ.
10
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Bảo toàn VCĐ về mặt hiện vật không phải chỉ giữ nguyên hình thái vật chất
và dặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ mà quan trọng hơn là duy trì thường xuyên
năng lực sản xuất ban đầu của nó. Điều đó có nghĩa là trong quá trình sử dụng
doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm mất mát TSCĐ, thực hiện đúng quy
chế sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa TSCĐ nhằm duy trì và nâng cao năng lực hoạt
động của TSCĐ, không để TSCĐ hư hại trước thời hạn quy định. Đối với mỗi
TSCĐ phải lập hồ sơ theo dõi riêng, đánh số, mở sổ theo dõi sự biến động, áp dụng
các phương pháp phân loại TSCĐ để quản lý định kỳ, doanh nghiệp phải tiến hành
kiểm kê TSCĐ, mọi trường hợp thừa thiếu TSCĐ đều phải lập biên bản, tìm
nguyên nhân và có biện pháp sử lý.
Bảo toàn VCĐ về mặt giá trị là phải duy trì được giá trị thực (sức mua) của
VCĐ ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu bất kể sự biến
động của giá cá, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ
thuật. Muốn vậy, doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ phù
hợp, tính chính xác thời gian khấu hao, nguyên giá TSCĐ khấu hao.
1.1.2.1. Vốn cố định của doanh nghiệp
* Khái niệm, đặc điểm TSCĐ của doanh nghiệp.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có
các yếu tố cơ bản: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.
Khác với các đối tượng lao động (nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm ) các tư liệu lao động (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện
vận tải ) là những phương tiện vật chất được con người sử dụng để tác động vào
đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bộ phận quan trọng
nhất, thường chiếm tỷ trọng lớn trong các tư liệu lao động được gọi là tài sản cố
định (TSCĐ). Đó là các tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp
máy móc thiết bị, phương tiện vận tải ) hay gián tiếp (nhà xưởng, công trình kiến
trúc, các khoản đầu tư mua sắm TSCĐ vô hình ).
Vậy: TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử
dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thoả mãn đồng thời tất cả
các tiêu chuẩn là TSCĐ.
11
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ đối với mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn không
giống nhau. Ở nước ta, tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ được ghi nhận trong quyết định
206/2003-QĐ-BTC áp dụng từ năm tài chính 2004, thay thế quyết định số
166TC/QĐ/CSTC ngày 30/12/1999 của Bộ Tài Chính. Theo quyết định này,
TSCĐ hữu hình của doanh nghiệp phải thoả mãn đồng thời 4 tiêu chuẩn sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó.
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy.
- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên.
- Có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên.
Đặc điểm của TSCĐ:
- Tài sản cố định có thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản
xuất kinh doanh.
- Trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn dần nhưng hình thái vật chất
vẫn được giữ nguyên. Chỉ khi chúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không còn
có lợi ích kinh tế thì chúng mới bị thay thế. Chính sự thay đổi về mặt hình thái vật
chất ban đầu của TSCĐ nên rất khó nhận ra sự hao mòn của chúng. Phải luôn đặt
TSCĐ trong trạng thái vận động, dựa trên năng lực sản xuất của TSCĐ mới có thể
biết mức hao mòn của chúng.
- Trong quá trình sử dụng, giá trị của TSCĐ bị hao mòn dần và giá trị hao
mòn đó được dịch chuyển dần vào giá trị sản phẩm tạo ra. Việc tính toán phần
chuyển dịch dần này rất phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: cường độ sử dụng
TSCĐ, thời gian sử dụng, đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của TSCĐ. Ngoài ra, nó còn
phụ thục vào nhiều yếu tố khách quan như: sự tiến bộ của khoa học và công nghệ,
các chính sách quản lý tài chính trong doanh nghiệp, Bởi vậy, hao mòn TSCĐ
được chia làm hai loại: hao mòn hữu hình TSCĐ và hao mòn vô hình TSCĐ.
+ Hao mòn hữu hình TSCĐ: Là sự hao mòn về vật chất và giá trị của TSCĐ,
làm giảm cả giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ. Về mặt vật chất, đó là sự hao mòn
có thể nhận thấy từ trạng thái vật lý ban đầu ở các bộ phận, chi tiết TSCĐ dưới sự
tác động của ma sát, tải trọng, Về giá trị sử dụng, đó là sự giảm sút về chất
lượng, tính năng kỹ thuật ban đầu trong quá trình sử dụng và cuối cùng không còn
sử dụng được nữa. Đối với các TSCĐ vô hình, hao mòn hữu hình chỉ thể hiện ở sự
hao mòn về mặt giá trị.
12
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Nguyên nhân chính dẫn đến hao mòn hữu hình là các nhân tố trong quá trình
sử dụng, bảo quản TSCĐ: Thời gian và cường độ làm việc, việc chấp hành các quy
phạm kỹ thuật trong quá trình sử dụng và bảo dưỡng TSCĐ. Ngoài ra là các nhân
tố về tự nhiên và môi trường sử dụng TSCĐ như độ ẩm, nhiệt độ môi trường
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức hao mòn hữu hình
TSCĐ sẽ giúp các doanh nghiệp có biện pháp hữu hiệu để hạn chế nó.
+ Hao mòn vô hình TSCĐ là sự hao mòn thuần tuý về mặt giá trị của TSCĐ,
biểu hiện sự giảm sút về giá trị trao đổi của TSCĐ do ảnh hưởng của tiến bộ khoa
học kỹ thuật.
1.1.2.2. Phân loại TSCĐ của doanh nghiệp.
Để quản lý TSCĐ một cách khoa học và hợp lý, người ta phân chia TSCĐ
theo các tiêu thức nhất định:
* Phân loại TSCĐ theo hình thức biểu hiện:
Căn cứ vào hình thức biểu hiện của TSCĐ, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
được chia thành:
- TSCĐ hữu hình: Những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể do doanh
nghiệp sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ (thuộc về TSCĐ hữu
hình có: Nhà xưởng, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, ).
- TSCĐ vô hình: TSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất
cụ thể, nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp quản lý, sử dụng cho các
hoạt động của doanh nghiệp. Những TSCĐ này không được biểu hiện ra dưới hình
thái vật chất cụ thể mà thể hiện ra là lượng giá trị lơn đã được đầu tư liên quan đến
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Chi phí mua bằng phát minh
sáng chế, chi phí mua nhãn hiệu hàng hoá, chi phí quyền sử dụng đất,
Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thức trên cho các nhà quản lý thấy cơ cấu
đầu tư vào từng loại TSCĐ, từ đó định hướng trong đầu tư hoặc điều chỉnh cơ cấu
đầu tư cho phù hợp xu thế hiện nay.
* Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng:
Căn cứ vào mục đích sử dụng, TSCĐ của doanh nghiệp được chia thành:
- TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh: Là các TSCĐ dùng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh có bản vào hoạt động kinh doanh phụ của doanh nghiệp.
13
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quôc phòng. Đó là
những tài sản do doanh nghiệp quản lý, sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự
nghiệp (Như các công trình phúc lợi), các TSCĐ phục vụ sử dụng cho hoạt động
đảm bảo an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp.
- TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ Nhà nước. Đó là những TSCĐ doanh nghiệp
bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc cho Nhà nước theo quyết định của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền.
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp thấy được cơ cấu TSCĐ của mình
theo m,ục đích sử dụng từ đó có biện pháp quản lý TSCĐ theo mục đích sử dụng
sao cho hiệu quả nhất.
* Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế:
Căn cứ vào công dụng kinh tế của TSCĐ, toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp
được chia thành các loại sau:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: Là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau
qúa trình thi công xây dựng như: Trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước,
sân bãi
- Máy móc thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị
công tác, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ,
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: Là các loại phương tiện vận tải
gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường ống và các thiết
bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện,
- Thiết bị, công cụ quản lý: Là những thiết bị, công cụ dùng trong công tác
quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp máy móc như máy vi tính phục vụ
quản lý thiết bị điện tử, dụng cụ đo lường,
- Vườn cây lâu năm, xúc vật làm việc: Là các vườn cây lâu năm như vườn
cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, ; xúc vật làm việc và hoặc cho
sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn bò
- Các loại TSCĐ khác: Là toàn bộ các TSCĐ khác chưa liệt kê vào 5 loại
trên như: Tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật,
Cách phân loại trên giúp nhà quản lý doanh nghiệp biết kết cấu TSCĐ theo
công dụng kinh tế từ đó biết trọng tâm của TSCĐ cần quản lý để điều chỉnh. Hơn
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét