Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ 17

Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
thương mại. Dự trữ bắt buộc chính là khoản tiền mà các ngân hàng thương mại
khi nhận tiền gửi cần phải trích lại một lượng, gửi lại ở NHTW để thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia. Phần tiền này dùng vào hai việc:
+ Đảm bảo thanh toán trong trường hợp khẩn cấp
+ Điều tiết lượng tiền mặt trong lưu thông, còn gọi là điều tiết quá trình tạo
ra tiền.
Đối với chức năng đảm bảo thanh toán trong trường hợp khẩn cấp thì dự
trữ bắt buộc cộng với bảo hiểm tiền gửi trở thành các công cụ bảo vệ tài sản của
người gửi tiền, do họ là số đông dân cư xã hội vì khả năng gây bất ổn với số
đông dân cư có thể làm bất ổn cả xã hội và làm giảm mức thu nhập toàn xã hội.
Chức năng này vì thế được quan tâm.
Với chức năng điều tiết lượng tiền trong lưu thông: Do đồng tiền gửi vào
có thể được cho vay ra, tạo ra luồng tiền mới, và rồi lại quay vòng gửi vào, dự
trữ bắt buộc có khả năng điều tiết số tiền quay vòng trong lưu thông này để
NHTW thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là ổn định tiền tệ
và chống lạm phát. Ở các nước nói chung, dự trữ bắt buộc chỉ được quy định đối
với tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi nhắn hạn.
Thông qua việc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW tác động tới mức
cung tiền cho toàn bộ nền kinh tế. Nếu NHTW tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì khả
năng tín dụng của Ngân hàng Thương mại (NHTM) sẽ giảm xuống, làm giảm
mức cung tiền. Ngược lại nếu muốn nới lỏng điều kiện tín dụng và tăng lợi
nhuận của ngân hàng, NHTW có thể giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Việc mở rộng
hay thu hẹp khả năng cung tiền cho nền kinh tế quốc dân sẽ thúc đẩy hay hạn
chế đầu tư và tiêu dùng, làm thay đổi tổng cầu, gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu
cực đến nền kinh tế.
Đây là công cụ có tác động mạnh mẽ đến lượng tiền cung ứng, tác động
đến các ngân hàng như nhau, giúp NHTW thực hiện chính sách thắt chặt hay mở
rộng một cách nhanh chóng, linh hoạt. Chỉ cần những thay đổi nhỏ về tỉ lệ dự
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
trữ bắt buộc sẽ gây ra những sự thay đổi lớn đối với lượng tiền cung ứng, do đó
công cụ này kém linh hoạt, chi phí cho sự điều chỉnh lại tốn kém. Hơn nữa, việc
tăng dự trữ bắt buộc có thể gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của các
NHTM, gây ra tình trạng không ổn định cho các ngân hàng. Chính vì thế, công
cụ dự trữ bắt buộc thường không được khuyến khích và ít được sử dụng.
3. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Là hoạt động NHTW mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường
tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự
trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín
dụng của các Ngân hàng thương mại, dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền
tệ cung ứng. Cụ thể: Khi NHTW bán các giấy tờ có giá cho các NHTM, NHTW
thu hồi một phần tiền từ lưu thông làm giảm lượng tiền cung ứng, dẫn đến khả
năng cho vay của các NHTM giảm, và giá trị tín dụng tăng lên. Ngược lại bằng
việc mua các giấy tờ có giá, NHTW làm tăng khả năng dự trữ, khả năng cho vay
của các NHTM, làm tăng khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng và do đó
lượng tiền cung ứng sẽ tăng lên.
Nghiệp vụ thị trường mở có thể được tiến hành một cách nhanh chóng,
đơn giản, không gây chậm trễ về mặt hành chính và ít tốn kém về mặt chi phí.
Tuy nhiên khi NHTW mua bán chứng khoán trên thị trường vẫn phụ thuộc vào
người mua bán (các NHTM), hơn nữa công cụ này chỉ áp dụng hiệu quả cho
những nước có thị trường tài chính tương đối phát triển, tiền trong lưu thông
phần lớn nằm trong tài khoản của ngân hàng.
4. Công cụ lãi suất tín dụng
Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi
vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền
trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất. Nó là 1 công
cụ rất hữu hiệu. Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
trương chính sách và giải pháp cụ thể của NHTW nhằm điều tiết lãi suất trên thị
trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.
4.1. Lãi suất tiền gửi và cho vay
NHTW có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và cho vay trên thị trường
thông qua cơ chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ. Nếu lãi suất tiền gửi cao, khối
lượng tiền gửi sẽ tăng, và ngược lại. Do đó khi muốn kích thích các nhà đầu tư
vay vốn, NHTW sẽ giảm mức lãi suất cho vay, khi cần hạn chế NHTW sẽ ấn
định một mức lãi suất cao. Khi công cụ này được sử dụng có thể giúp ngân hàng
lựa chọn những dự án kinh tế tối ưu để cho vay, nhưng lại làm cho các NHTM
mất tính chủ động, xử lý linh hoạt trong kinh doanh. Thậm chí dẫn đến tình
trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư phát triển sản xuất.
Đối với những nước hoạt động theo cơ chế thị trường, nơi mà lãi suất rất nhạy
cảm với đầu tư và phải được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trường
thường ít sử dụng biện pháp này.
4.2. Lãi suất chiết khấu
Đây là hình thức NHTW cho các NHTM vay dưới hình thức tái chiết
khấu tức là NHTW tái cấp vốn cho các NHTM kèm theo các quy định và điều
kiện cho vay. Các NHTM đi vay nhằm bù đắp hoặc bổ sung nhu cầu vốn khả
dụng để đáp ứng cho nền kinh tế, giup shệ thống ngân hàng hoạt động bình
thường tránh nguy cơ phá sản.
Khi NHTW thay đổi hạn mức chiết khấu, tái chiết khấu sẽ tác động đến
lãi suất huy động vốn và cho vay của các NHTM cũng như khả năng đi vay của
các NHTM tại NHTW, gây ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm lượng tiền cung
ứng cho nền kinh tế. Cụ thể: Khi NHTW tăng lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu
sẽ dẫn đến lãi suất cho vay của các NHTM tăng, làm giảm nhu cầu tín dụng của
nền kinh tế, làm giảm lượng tiền cung ưng trong lưu thông và ngược lại.
Thông qua việc sử dụng công cụ này, NHTW đóng vai trò là người cho
vay cuối cùng. Đây là công cụ có tính linh hoạt, mang lại hiệu quả, đảm bảo sự
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
cạnh tranh bình đẳng và chủ động giữa các ngân hàng. NHTW có thể điều chỉnh
cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế, gây tác động đến lãi suất thị trường liên ngân
hàng theo ý NHTW. Tuy nhiên điều này chỉ mang lại hiệu quả khi lãi suất lãi
suất tái chiết khấu phù hợp với lãi suất thị trường, phụ thuộc vào vốn của
NHTW và NHTM.
5. Công cụ hạn mức tín dụng
Là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của NHTW để
khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Hạn mức tín
dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp
hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. NHTW xác định hạn mức tín dụng căn cứ
vào các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng kinh tế, biến động về giá cả, tỉ lệ thất
nghiệp…
Biện pháp này rất phù hợp trong nền kinh tế có lạm phát. Trong nền kinh
tế thị trường khi mà cung cầu tín dụng biến đổi không ngừng, hạn mức tín dụng
chỉ được áp dụng một cách hạn chế vì nó triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các
ngân hàng, nó có thể làm sai lệch cơ cấu đầu tư trong nền kinh tế bởi với hạn
mức tín dụng được NHTW quy định thì các NHTM sẽ tập trung vào các dự án
đầu tư lớn, dễ thu đựơc lợi nhuận và gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ.
6. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ.
Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu
ngoại hối. Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác
động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập
khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút
vốn dầu tư, dự trữ của đất nước. Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của
chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông. Tuy
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ
giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ.
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
Nền kinh tế nước ta mới chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp
sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy thời gian chưa nhiều,
nhưng đủ để phát hiện và khảo sát tính chu kỳ của nền kinh tế và những biểu
hiện của nó đã xuất hiện tương đối rõ. Kể từ năm 1986 đến nay, tăng trưởng
kinh tế đã trải qua 4 giai đoạn thăng trầm: năm 1986 – 1991 chỉ tăng trưởng
4,7%/ năm; năm 1992 – 1997 tăng trưởng tới 8,7%/ năm mà đỉnh cao là năm
1995 với GDP tăng 9,5%; năm 1998 – 2001 lại hạ xuống còn khoảng 6%/ năm ,
năm 2002 – 2005 phục hồi với trên 7,6%/ năm, và năm 2007 đạt mức 8,4%/
năm. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển tương đối nhanh, các
nhà kinh tế cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể đạt gần 10% trong
5 năm tới.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, có nhiều nước dựa vào mô hình tăng
nhanh đầu tư, dù phải chấp nhận gánh nặng nợ nước ngoài ngày càng gia tăng,
nghĩa là tăng trưởng cao bằng mọi giá. Kết quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế xấp
xỉ 2 con số, đồng thời lạm phát cũng gia tăng, nền kinh tế phát triển quá “nóng”,
các nhân tố khủng hoảng kinh tế - tài chính xuất hiện và ngày càng chín muồi
dẫn tới khủng hoảng không thể tránh khỏi. Tuy vậy, một số nhà kinh tế vẫn ủng
hộ quan điểm chấp nhận khủng hoảng (khủng hoảng lạm phát cao, khủng hoảng
nợ, khủng hoảng thâm hụt ngân sách nhà nước) và coi đó như một nhân tố thúc
đẩy cải tổ cơ cấu nhanh hơn, có hiệu quả hơn và do đó tiếp tục đạt tốc độ tăng
trưởng cao hơn. Tóm lại, đây là mô hình tăng trưởng nhanh “lồi lõm” nhưng xu
hướng chung vẫn đưa nền kinh tế đạt trình độ cao hơn.
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
Quan điểm thứ hai đang được nhiều nước ủng hộ là tăng trưởng ổn định.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng chỉ có thể duy trì được dài hạn nếu ở mức vừa
phải, kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng mức đó không quá 6 – 8%/ năm. Muốn
quy mô GDP năm 2010 gấp đôi so với năm 2000 thì tốc độ tăng trưởng kinh tế
bình quân hàng năm phải đạt 7,2%, tức là nằm trong khung 6 - 7%/ năm.
Mặc dù công cụ của chính sách tiền tệ hướng vào các mục tiêu kinh tế vĩ
mô nhưng tác động của chúng không nhất thiết sẽ tác động đồng đều tới toàn bộ
hệ thống kinh tế. Ngược lại, chúng có tính chọn lọc. Ví dụ, đối với chính sách
tiền tệ thắt chặt, nó có ảnh hưởng bất lợi đối với các doanh nghiệp nhỏ nhiều
hơn; đó thường là các doanh nghiệp trả lãi suất cao hơn, nó thường bị hạn chế
tín dụng và chỉ có thể sử dụng nguồn tự tài trợ hết sức hạn chế và nguồn tài trợ
chéo, có tài trợ chéo khi lợi nhuận trong một khu vực được sử dụng để tài trợ
đầu tư cho một khu vực khác nhằm duy trì tăng trưởng của doanh nghiêp trong
khu vực thứ hai. Tương tự, việc nâng giá hay lên giá của tỷ giá sẽ làm giảm xuất
khẩu đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa co giãn mạnh theo giá nhiều
hơn là các doanh nghiệp sản xuất các hàng hóa mới hay hàng hóa chất lượng cao
bởi vì co giãn của cầu theo giá thấp hơn.
I. Sử dụng công cụ chính sách tiền tệ qua các giai đoạn
1. Từ năm 2005 - 2007
Giai đoạn này, Ngân hàng Nhà nước đã thực thi chính sách tiền tệ linh
hoạt bằng việc cung ứng thêm tiền cho lưu thông thông qua các công cụ, ổn định
tỷ giá hối đoái, điều chỉnh tăng ở mức thích hợp các mức lãi suất cơ bản, lãi suất
tái cấp vốn để khuyến khích các tổ chức tín dụng đẩy mạnh huy động vốn từ thị
trường. Việc sử dụng chính sách tiền tệ thận trọng đã góp phần kiềm chế lạm
phát ở mức một con số.
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước còn điều hành chính sách tiền tệ thông
qua các công cụ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, chiết
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
khấu, tỷ giá, trong đó nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò quan trọng để điều
tiết cung-cầu vốn.
Trong năm 2005, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện khoảng 160 phiên
mua bán, chủ yếu là các phiên chào mua, với doanh số vốn cung ứng hàng ngàn
tỷ đồng. Đây là công cụ có tính thị trường cao, giúp các ngân hàng thương mại
xử lý nhanh sự thiếu hụt về vốn.
Năm 2005 cũng là năm cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam thặng
dư khoảng 1,9 tỷ USD, gấp hơn hai lần so với mức 863 triệu USD năm trước.
Theo nhận định của Ngân hàng Nhà nước, thặng dư cán cân thanh toán quốc tế
tăng cao góp phần làm giảm sức ép điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ và kiềm chế lạm
phát trong nước.
Trong bối cảnh cán cân thương mại nhập siêu ở mức khá lớn, việc điều
hành tỷ giá cũng đã được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh ở mức thích hợp để
góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tiền tệ, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập
khẩu và hạn chế tác động làm tăng lạm phát từ nhập khẩu cũng như giảm áp lực
cho doanh nghiệp.
Cùng với việc điều hành chính sách tỷ giá thả nổi có kiểm soát, Ngân
hàng Nhà nước tiếp tục mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối. Ước tính đến cuối
năm 2005, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã ở mức trên 10 tuần nhập khẩu hàng
hóa, trong khi mức dự trữ vào thời điểm cuối năm 2004 là 9 tuần, đủ khả năng
can thiệp để ổn định thị trường ngoại tệ.
Riêng thị phần tín dụng cho đầu tư phát triển từ khu vực ngân sách Nhà
nước và các "Quỹ" tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã chiếm tới hơn 30%
tổng đầu tư toàn xã hội trong những năm vừa qua. Đó là chưa kể, phần tín dụng
chính sách, phần vốn nhà nước ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước, các ngân
hàng quốc doanh và phần bù lãi suất cho tín dụng chính sách ưu đãi hàng năm
cũng ngày càng gia tăng. Luật pháp điều chỉnh không thống nhất đã làm chia cắt
và rối loạn thị trường tài chính.
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
Ngoài ra, với qui mô luân chuyển và sử dụng khối lượng tiền lớn như vậy,
nếu không đi qua một trung tâm thanh toán thống nhất "một cửa" của hệ thống
thanh toán quốc gia do Ngân hàng Trung ương quản lý thì tất yếu sẽ dẫn đến
những rủi ro không đáng có và gây ảnh hưởng rất lớn đến việc điều hành chính
sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Chính sách cung ứng, chính sách tỷ giá,
chính sách lãi suất do đó không thể tránh được sự ảnh hưởng xấu trực tiếp đến
mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, đến khả năng kiểm soát lạm phát.
2. Từ năm 2007 đến nay
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 8,4% trong năm 2007. Đây là mức tăng
trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua. Tuy nhiên tỉ lệ lạm phát trung bình
trong năm nay ước tính khoảng 8,3%.
Năm 2008, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Theo Ngân hàng Nhà nước, năm nay kinh tế Việt Nam dự báo tiếp tục tăng
trưởng ở mức cao, thu hút vốn đầu tư nước ngoài thuận lợi, nhưng việc kiểm
soát tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng thấp hơn tăng trưởng kinh tế gặp phải khó
khăn, do giá cả hàng hóa diễn biến phức tạp.
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung
Tiểu luận KTCT GVHD: §ç ThÞ Kim
Hoa
Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng, gây sức ép tăng giá VND và kéo
theo phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ tăng lên. Do đó, Ngân hàng Nhà nước
điều hành các công cụ chính sách tiền tệ một cách chủ động, theo nguyên tắc thị
trường, nhằm ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Để chủ động kiểm soát tổng phương tiện thanh toán phù hợp với các mục
tiêu chính sách tiền tệ, việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng
được thực hiện cụ thể như sau:
+ Thứ nhất: Mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc bao gồm
các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, thay vì áp dụng dự trữ bắt buộc đối
với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống như thời gian qua.
+ Thứ hai, điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với các loại tiền
gửi so với tỷ lệ quy định hiện nay. Đối với tiền VND không kỳ hạn và có kỳ hạn
dưới 12 tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%; đối với tiền gửi
có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%; đối
với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10%
lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ
4% lên 5%.
+ Thứ ba, không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức
tín dụng hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nông thôn (Ngân hàng Nông
nghiệp, các ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, Quỹ Tín dụng nhân dân
trung ương, ngân hàng hợp tác) nhằm hỗ trợ các đơn vị này mở rộng tín dụng
phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn.
Theo Ngân hàng Nhà nước, mục đích của việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc
nhằm rút bớt tiền từ lưu thông về, chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương
tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế
vĩ mô. Đối với các tổ chức tín dụng, việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc lần này mặc
dù có thể làm tăng chi phí huy động vốn nhưng chỉ ở mức thấp, mặt bằng lãi
Học Viên: NguyÔn ThÞ Kim Dung

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét