LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường khu vực ven biển vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2001-2010 pptx": http://123doc.vn/document/1053077-tai-lieu-nghien-cuu-xay-dung-quy-hoach-moi-truong-khu-vuc-ven-bien-vung-dong-bang-song-hong-giai-doan-2001-2010-pptx.htm
với ngời và của. Ngoài khơi, bão gây sóng lớn, làm lật tàu bè trọng tải dới 1000
tấn. Tác động của bão là một nguyên nhân quan trọng thờng dẫn đến xói lở bờ biển
Giao Thuỷ - Hải Hậu - Nghĩa Hng (Nam Định), đồng muối Hải Hậu lớn nhất miền
Bắc Việt Nam đang dần bị thu hẹp lại là 1 thực trạng đáng lo ngại cần phải xem xét
tìm cách giải quyết, khắc phục.
Một hiện tợng thời tiết quan trọng nữa cũng gây hại lớn tới khu vực đặc biệt
từ Thái Bình đến Ninh Bình là lốc và vòi rồng. Lốc và vòi rồng thờng xuất hiện
trong các cơn dông mạnh, kèm theo ma đá hoặc ma rào mãnh liệt trong phạm vi
hẹp, thời gian ngắn, tốc độ gió rất lớn tơng đơng gió bão, gây h hại lớn tới hoa
màu, nhà cửa, ngời và vật.
Ma phùn cũng là hiện tợng thời tiết đặc biệt có tần suất lớn ở vùng ven
biển . So với vùng đồng bằng, số ngày ma phùn ở đây ít hơn, trung bình hàng năm
có khoảng 20-30 ngày. Ma phùn nhiều nhất vào tháng 3, khoảng 6-12 ngày/tháng,
tháng 2 có khoảng 5-10 ngày/tháng.
Càng gần biển sơng mù càng xuất hiện nhiều. Trung bình hàng năm có
khoảng 10-20 ngày có sơng mù ở vùng ven biển, ở khu vực giáp biển, số ngày có
sơng mù nhiều nhất quan sát đợc vào tháng 3, khoảng 5-6 ngày/ tháng, ở khu vực
xa biển hơn, tháng có số ngày sơng mù lớn nhất là tháng 12 hoặc tháng 1, khoảng
2-4 ngày/tháng.
Thời tiết khô nóng cũng xuất hiện ở vùng ven biển song ít và mức độ nhẹ.
Trung bình hàng năm có khoảng 2-12 ngày có thời tiết khô nóng, tập trung vào đầu
mùa hạ.
Dông khá phổ biến ở vùng lãnh thổ này, tuy so với đồng bằng và trung du thì
ít hơn rõ rệt. Hàng năm trung bình có khoảng 35-45 ngày dông. Dông tập trung chủ
yếu vào mùa hè (tháng 6 đến tháng 8) trung bình có khoảng 5-10 ngày/tháng. Mùa
đông hầu nh không có dông, dông đôi khi có kèm theo ma đá, gây ảnh hởng lớn
đến sản xuất và đời sống.
1.2. Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên.
1.2.1. Tài nguyên đất.
Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn dải là 291.081 ha, theo kết quả phân tích
thổ nhỡng, đất đai của dải đợc chia thành 5 nhóm chính nh sau:
*Đất cát biển
Về lý tính: có kết cấu thô, cát chiếm 80- 85%, mùn 10-15%, sét 1,5-6%, tỷ
trọng đất 2,6-2,7, độ xốp 50%, lợng nớc giữ lại thấp từ 18-26%. Điểm héo 2-3%,
đất có tốc độ thấm nớc cao 40-96 mm/giờ.
* Đất mặn
Phân bố ở các huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng, An Hải, Tiên Lãng, Thái
Thuỵ, Hải Hậu, Kim Sơn, Nghĩa Hng, Cát Bà.
4
Là loại đất trung tính, ít chua pH
KCl
= 6,5-7,0, giàu chất hữu cơ, đạm, lân,
kali (cả tổng số và dễ tiêu), có độ phì nhiêu cao. Tuy nhiên, do hàm lợng muối cao
nên đã hạn chế đến năng suất cây trồng.
Đất mặn tập trung chủ yếu ở Hải Hậu và Tiền Hải, song nhiều năm qua do
quai đê lấn biển, hoàn chỉnh hệ thống thuỷ nông rửa mặn và tăng cờng bón vôi nên
hầu hết diện tích đất mặn chỉ còn mặn ít dới mức hạn chế đối với cây lúa, vì vậy
năng suất lúa vẫn đạt từ 8-9 tấn/ha.
ở khu vực ngoài đê thuộc Tiền Hải, Thái Thuỵ, Hải Phòng, đất đai chủ yếu là
đất mặn nhiều và rất mặn. Đây là vùng đất quan trọng có thể phát triển ngành nuôi
trồng thuỷ sản (tôm, cua, cá là những sản phẩm có giá trị cao, có thị trờng rộng rãi,
ngoài ra còn có thể phát triển trồng cói).
* Đất phèn
Phân bố ở các huyện Thái Thuỵ, Tiên Lãng, An Hải, Kiến Thuỵ, An Lão,
Thuỷ Nguyên.
*Đất phù sa
Đợc hình thành do phù sa của 2 hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Đất
phù sa của hệ thống sông Hồng phân bố ở phía Nam của vùng ven biển từ huyện
Tiền Hải đến Kim Sơn, còn đất của hệ thống sông Thái Bình phân bố ở phần phía
Bắc. Do chảy qua 2 khu vực đá mẹ khác nhau nên tính chất phù sa 2 hệ thống sông
khác nhau.
*Đất feralit đỏ vàng
Phân bố lẻ tẻ ở Đồ Sơn, Thuỷ Nguyên. Đất có địa hình dốc thoải khoảng 8-
15
0
trên độ cao 15-100 m, đợc hình thành trên đá biến chất và sa thạch.
Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, có tầng dày 70-100 m, đất chua
pH= 4-4,5, các chất hữu cơ trung bình, nghèo lân và kali, cation trao đổi thấp.
Nhìn chung đất có độ phì nhiêu thấp, có thể trồng chè, cây ăn quả, trồng rừng
để bảo vệ và phục hồi đất.
1.2.2. Tài nguyên nớc ngọt.
* Nguồn nớc ma.
Vùng ven biển ĐBSH hàng năm hứng một lợng nớc ma lớn 8,102 x 10
9
m
3
, với đặc điểm ma tập trung vào mùa hè, nhất là những ngày ma lớn do bão hay
các nhiễu động thời tiết kết hợp (bão, áp thấp nhiệt đới, giải hội tụ nhiệt đới ).
Nguồn nớc ma tuy khá phong phú nhng phân bố không đều theo không gian và
thời gian gây khó khăn cho việc khai thác sử dụng. Do vùng ven biển chủ yếu có địa
hình thấp và có đê bao bọc nên ma thờng gây ngập úng ảnh hởng đến sản xuất
nông nghiệp và giao thông vận tải. Đặc biệt vùng ven biển ĐBSH khác với các vùng
khác ở phía nam nớc ta là trong mùa khô lạnh có gió mùa đông bắc kèm theo ma
phùn đã làm giảm giá trị cực đại của hạn kiệt. Nớc ma của vùng ven biển có độ
khoáng hoá dao động trong khoảng 20-160 mg/l, vào mùa khô độ khoáng hoá của
5
nớc ma lớn hơn nhiều so với mùa ma. Tuy nhiên nhìn chung, nguồn nớc ma
của vùng ven biển vẫn cha bị nhiễm bẩn, là nguồn nớc sạch có thể sử dụng cho ăn
uống, sinh hoạt. Riêng thành phố Hải Phòng không nên sử dụng nớc ma vào đầu
mùa ma.
* Nguồn nớc mặt.
Vùng nghiên cứu là vùng hạ lu của đồng bằng châu thổ sông Hồng - sông
Thái Bình. Các sông thuộc vùng ven biển là đoạn hạ lu cuối cùng (cửa sông) của hệ
thống sông Hồng - sông Thái Bình. Hàng năm trung bình đa ra biển 122.10
9
m
3
nớc và 120 triệu tấn phù sa.
Do ảnh hởng của chế độ thuỷ văn lục địa và thuỷ văn biển, là nơi gặp gỡ,
giao tranh giữa 2 chế độ thuỷ văn nên đặc điểm thuỷ văn ở đây thay đổi rất phức tạp.
Sự phức tạp này ngày càng đợc gia tăng trong những thập kỷ gần đây do tác động
mạnh mẽ của hoạt động con ngời. Vùng hạ du sông có hệ thống đê bao bọc, vào
mùa lũ các ô trũng trong đê thờng bị ngập rất nghiêm trọng vì thời gian này ở đồng
bằng có ma lớn, nớc sông lại cao nên nớc không thể tiêu ra đợc gây ngập úng
thiệt hại rất nặng nề cho sản xuất nông nghiệp.
Mùa kiệt nớc trong sông rất ít, đợc duy trì chủ yếu do nớc ngầm, tạo điều
kiện cho quá trình truyền triều và xâm nhập mặn vào sâu trong vùng cửa sông. Vì
vậy vùng cửa sông vào mùa cạn ảnh hởng của chế độ thuỷ văn biển mạnh mẽ hơn
chế độ thuỷ văn sông.
Các cửa sông vùng ven biển là nơi gặp gỡ giữa nớc sông và nớc biển, sự
tơng tác động lực giữa dòng chảy sông từ lục địa đổ ra và dòng triều từ biển truyền
vào diễn ra liên tục theo chu kỳ triều. Tuy lu lợng dòng triều không trực tiếp sử
dụng đợc cho nông nghiệp, dân sinh và công nghiệp nhng dòng triều đã tạo ra thế
nớc để các công trình thuỷ lợi có thể hớt phần nớc ngọt trên trong dòng triều để
đa vào sử dụng (khi triều lên) và tiêu nớc (khi triều rút). Đồng thời, thế nớc thuỷ
triều cũng là một yếu tố quan trọng trong giao thông thuỷ ở vùng cửa sông ven biển.
Vì vậy có thể xem thuỷ triều là tài nguyên nớc mặt.
Tuỳ theo lợng nớc sông ngòi và độ lớn của thuỷ triều trong từng thời kỳ
mà chúng có ảnh hởng khác nhau đối với nớc vùng cửa sông. Mùa lũ, khi nớc
nguồn đổ về rất lớn đẩy lùi dòng triều ra biển thì ảnh hởng của thuỷ triều bị lu mờ,
nhịp điệu dao động mực nớc lên xuống theo thuỷ triều không rõ rệt. Nớc bị dồn ứ
mạnh ở pha triều rút gây khó khăn cho việc thoát lũ và có tốc độ dòng chảy rất cao
khi triều rút gây xói lở, biến dạng lòng dẫn. Mùa cạn, nớc nguồn đổ về ít, dòng
triều lấn át dòng nớc nguồn tiến sâu vào trong sông, trên sông Hồng ảnh hởng của
sóng triều có thể lên tới Hà Nội, trên sông Thái Bình có thể lên tới Phủ Lạng
Thơng.
Dòng chảy vùng nghiên cứu bao gồm hầu hết các loại dòng chảy thành phần:
Dòng chảy sông, dòng triều, dòng trôi do gió Sự tơng tác giữa chúng biến động
mạnh theo cả không gian và thời gian, đã gây không ít khó khăn cho việc khai thác
và sử dụng tài nguyên nớc trong khu vực nghiên cứu.
6
Tóm lại:
Nguồn nớc mặt vùng ven biển diễn biến rất phức tạp do chịu ảnh hởng
mạnh mẽ của chế độ thuỷ văn sông Hồng - Thái Bình, chế độ thuỷ văn biển vịnh Bắc
Bộ và địa hình khu vực. Tài nguyên nớc mặt vùng ven biển ĐBSH rất phong phú
song chủ yếu là nớc mặn và nớc lợ. Nguồn nớc nhạt rất hạn chế lại bị nhiễm
mặn nên nguồn nớc cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất gặp nhiều khó khăn.
Nguồn nớc mặt ở đây rất thích hợp cho nuôi trồng thủy - hải sản và phát triển giao
thông thuỷ. vùng ven biển là nơi tiếp nhận các nguồn thải từ trong lục địa theo sông
đa ra nhng mức độ ô nhiễm vẫn cha tới mức báo động ( trừ khu vực Hải Phòng )
Sở dĩ nh vậy là do khả năng tự làm sạch của dòng nớc, tức là trong quá trình vận
chuyển nớc đã diễn ra các phản ứng hoá học, các quá trình tự phân huỷ và lắng
đọng của trầm tích. Mặt khác vùng ven biển là nơi tơng tác giữa nớc mặn và ngọt
nên đã xảy ra các phản ứng hoá học gây hiện tợng ngng keo kết bông làm lắng
đọng chất bẩn.
Do vậy vấn đề đặt ra đối với việc sử dụng có hiệu quả cao nguồn nớc này
là:Hạn chế đến mức tối đa các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ làm ô nhiễm nguồn nớc, các chất thải sau khi qua xử lý đạt tiêu chuẩn quy
định mới đợc thải ra sông, biển. Việc sử dụng nớc cho đời sống sinh hoạt phải
đặc biệt tiết kiệm đồng thời cũng bảo vệ nguồn nớc bằng cách không đổ các chất
thải bẩn vào nguồn nớc
* Nguồn nớc ngầm.
Vùng ven biển ĐBSH tồn tại các đơn vị chứa nớc với mức độ giàu nghèo
nớc khác nhau nh sau:
1. Tầng chứa nớc lỗ hổng trầm tích hỗn hợp sông - biển và đầm lầy thống
Holoxen hệ tầng Thái Bình (Q
3
IV
tb).
2. Tầng chứa nớc lỗ hổng trầm tích hỗn hợp biển, đầm lầy hệ tầng Hải Hng
(amQ
1-2
IV
hn).
3. Tầng cách nớc trầm tích biển thống Pleixtoxen hệ tầng Vĩnh Phúc (aQ
III
vp).
4. Tầng chứa nớc lỗ hổng trong trầm tích Pleixtoxen giữa trên, hệ tầng Hà Nội
(aQ
II - III
hn).
5. Tầng chứa nớc lỗ hổng, vỉa - lỗ hổng trầm tích Pleixtoxen dới - Neogen
thống trên.
6. Tầng chứa nớc khe nứt - castơ trầm tích cacbonat thống giữa điệp Đồng
Giao (T
2
đg).
7. Tầng chứa nớc khe nứt trầm tích Jura (J).
8. Tầng chứa nớc khe nứt trầm tích Silua (S).
Ngoài những đơn vị chứa nớc đã đợc mô tả, trong vùng nghiên cứu còn
một số các hệ thống đứt gãy lớn cắt qua những thành tạo Mezozoi, nhng cho đến
nay cha có tài liệu nghiên cứu về địa chất thuỷ văn các hệ thống đứt gãy này.
7
Bảng 1: Trữ lợng nớc ngọt của các tỉnh ven biển ĐBSH
TT Tỉnh
Trữ lợng có thể khai thác đợc ở các
cấp (m
3
/ngày)
A B C1 C2
Trữ lợng nớc
ngọt dới đất
(m
3
/ngày)
1 Hải Phòng 24.727 4633 29.360
2 Nam Định 2.100 10.396 9.184 67.600 89.280
3 Thái Bình 21.000 157.976 178.976
4 Ninh Bình 5.270 17.355 67.007 98.632
Nguồn: Đề án khai thác tổng hợp và sử dụng hợp lý tài nguyên vùng ven biển Bắc
Bộ
Cụ thể về chất lợng nguồn nớc ngầm của các Tỉnh vùng ven biển đợc thể
hiện nh sau:
+ Thành phố Hải Phòng
: Nhìn chung trữ lợng nớc nhạt đạt tiêu chuẩn cho ăn
uống và sinh hoạt rất hạn chế
- Vùng Bắc Thuỷ Nguyên
Phức hệ chứa nớc Vĩnh Phú - Hà Nội và trầm tích đệ tứ nói chung bị mặn
có nơi độ khoáng hoá của nớc đạt 9,06 g/l, hàm lợng clo 227,43-5735
mg/l
Phức hệ chứa nớc khe nứt trầm tích Jura chứa nớc nhạt, nớc có độ
khoáng hóa 0,06-0,11 g/l, hàm lợng clo 11-35,5 mg/l, tổng độ cứng 0,3-
0,96 mg/l
- Vùng Hải Phòng - Kiến An:
Tầng chứa nớc Vĩnh Phú - Hà Nội: Chất lợng nớc biến đổi phức tạp
mặn, nhạt xen kẽ rất khó khai thác.
Phức hệ chứa nớc khe nứt trầm tích Silua: nhìn chung chất lợng tốt, nớc
nhạt, độ khoáng hoá của nớc thờng nhỏ hơn 15 mg/l, độ pH thay đổi từ
6,5-8,4, tổng độ cứng dao động từ 5-10 mlđ/l, kiểu thành phần hoá học là
Bicacbonat - Clorua manhê - Canxi hoặc Clorua - Bicacbonat Natri - Canxi.
- Vùng Đồ Sơn: có 2 phân vị chứa nớc dới đất có ý nghĩa trong việc cung
cấp nớc ở quy mô nhỏ vì nhìn chung trữ lợng nớc dới đất nhạt ở khu vực Đồ
Sơn rất hạn chế.
Tầng chứa nớc Thái Bình: Chất lợng nớc thay đổi theo hớng từ miền
cung cấp ra đến phía biển, đồng thời thay đổi theo chiều thẳng đứng. Kiểu
thành phần hoá học của nớc dới đất cũng biến đổi theo hớng ra phía biển
và theo chiều thẳng đứng. Nhìn chung chất lợng biến đổi phức tạp và trong
nhiều trờng hợp không đảm bảo chất lợng nớc dùng cho ăn uống và sinh
hoạt.
8
Phức hệ chứa nớc khe nứt trầm tích Silua: lợng nớc tơng đối hạn chế,
tổng độ cứng thay đổi 0,17-0,74 mlđ/l, độ khoáng hoá thay đổi 0,038-0,138
g/l, kiểu nớc Bicacbonat - Clorua Natri - Canxi hoặc Clorua - Bicacbonat
Natri- Canxi, nớc ở khu vực này có chất lợng tốt, đảm bảo chất lợng dùng
cho ăn uống và sinh hoạt.
- Vùng An Hải:
Tầng chứa nớc Thái Bình: nớc có độ khoáng hoá thay đổi 0,61-7,79 g/l, pH
6,4 - 8 nhìn chung chất lợng nớc dới đất tầng chứa nớc này ở khu vực
Huyện An Hải không đảm bảo cung cấp nớc cho sinh hoạt, kể cả tới ruộng
vì hầu nh tất cả các nguyên tố đều có hàm lợng vợt tiêu chuẩn cho phép.
Tầng chứa nớc Vĩnh Phú - Hà Nội: nớc dới đất của tầng này nhìn chung có chất
lợng phức tạp, hàm lợng Fe
3+
hơi cao (2,79-9,77 mg/l) vợt tiêu chuẩn cho phép
nớc uống, độ khoáng hoá thay đổi 0,55-1,41 g/l.
Phức hệ chứa nớc khe nứt trầm tích Silua ở khu vực Phố Quán Trừ là nớc
nhạt với độ khoáng hoá 0,28 g/l, nớc có chất lợng tốt, có thể sử dụng cho sinh
hoạt.
+ Tỉnh Nam Định:
Tại đây cũng quan sát thấy hiện tợng nớc nhạt và mặn
nằm xen kẹp nhau.
Tại các Huyện Nghĩa Hng, Hải Hậu, Giao Thuỷ: chất lợng nớc dới đất
biến đổi khá phức tạp, tại cả 3 huyện trên có tầng chứa nớc Hải Hng bị mặn lợ,
còn tầng chứa nớc Vĩnh Phú- Hà Nội nhạt.
+ Tỉnh Thái Bình:
Sự phân bố nớc mặn và nhạt dới đất ở địa phận tỉnh Thái
Bình khá phức tạp, có hiện tợng nớc mặn và nhạt nằm xen kẹp nhau, phần lớn các
huyện, nớc ở tầng chứa nớc Vĩnh Phú- Hà Nội đều bị mặn. Mặt khác sự phân bố
nớc mặn, nhạt ở 2 Huyện Tiền Hải và Thái Thuỵ trái ngợc nhau. Nếu nh ở Thái
Thuỵ, chất lợng nớc tầng chứa nớc Vĩnh Phú - Hà Nội tốt, nớc nhạt thì tầng
chứa nớc Vĩnh Phú - Hà Nội ở huyện Tiền Hải là bị mặn.
Bảng 2: Tiềm năng nớc khoáng vùng ven biển
TT
Số lỗ
khoan
Địa
tầng
Địa danh
Nhiệt
độ
(
0
C)
Độ
khoáng
hoá
(mg/l)
pH
Loại hình
hoá học
1 103 N
2
1
Vũ Lăng, Tiền Hải 135 20,4 Cl - Na
2 65 N
2
1
Tây Ninh, Tiền Hải 24,6 8,0 Cl - Na
3 65 N
1
1
Tây Ninh, Tiền Hải 23,5 8,0 Cl - Na
4 61 N
3
1
Đông Cơ, Tiền Hải 28,7 8,0 Cl - Na
5 61 N
2
1
Đông Cơ, Tiền Hải 112 19,4 Cl - Na
6 67 N
2
1
Nam Thắng , Tiền Hải
127 19,2 Cl- Na
7 82 N
2
1
Tiền Hải 34 1,01 8,3 HCO
3
-Na
9
9 14 C-P Thái Thuỵ 54 13,13 Br Cl -Na
10 Tiên Lãng 39 Cl - Na
Nguồn: Đề án khai thác tổng hợp và sử dụng hợp lý tài nguyên vùng ven biển Bắc
Bộ
+ Tỉnh Ninh Bình:
Huyện Kim Sơn chỉ nên chủ yếu tập trung vào khai thác
nớc dới đất tầng chứa nớc Thái Bình - Hải Hng ở độ sâu không quá 15 m. Nếu
khoan sâu hơn sẽ gặp nớc mặn xâm nhập.
Tóm lại: Trữ lợng nớc nhạt dới đất của hầu hết các đơn vị chứa nớc ở
các huyện vùng ven biển không lớn nhng chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc
cấp nớc sạch cho nông thôn. Do sự phân bố nớc dới đất có sự xen kẹp giữa mặn
và nhạt nên trong quá trình khai thác nớc ở các huyện vùng ven biển cần hết sức
chú ý đến chế độ khai thác hợp lý, đồng thời đòi hỏi phải có những nghiên cứu điều
tra tỷ mỉ hơn. Có thể chỉ ra các tầng, và phức hệ chứa nớc có thể khai thác nớc
dới đất nhạt với quy mô nhỏ ở từng địa phơng nh sau:
1.2.3. Tài nguyên khoáng sản.
a.Khoáng sản nhiên liệu:
+ Than nâu: ở vùng Khoái Châu - Tiền hải có mỏ than nâu trải dài trên 100
km, rộng trung bình 10 km. Mỏ than này có từ 7-46 lớp dạng vỉa hoạt thấu kính hẹp,
bề dày biến đổi từ 0,2 đến hơn 5 m, trung bình 1m. Độ ẩm 13,71%, độ tro 15,74%
tối đa không vợt quá 40%, chất bốc 48,61%, nhiệt năng của than ẩm tự nhiên
5814,3 Kcal/kg, nhiệt năng cháy trung bình 6956 Kcal/kg, hàm lợng S 0,11-1,85%,
hàm lợng cac bon 60-70%, hàm lợng nitơ 0,84-2,83%, hàm lợng oxy 14,8-
31,7%, trữ lợng than đạt 22 tỉ tấn. Nhìn chung than có chất lợng tốt, nghèo tro, rất
nghèo S, nhiệt lợng tơng đối cao song phân bố ở độ sâu quá lớn.
+ Than bùn: ở vùng ven biển có một số mỏ có giá trị: Mỏ than bùn Kiến
Quốc phân bố tại xã Kiến Quốc huyện Kiến Thuỵ. Mỏ nằm trên đồng bằng thấp, độ
cao chỉ 1-2 m, trong trầm tích rất trẻ thuộc tầng Thái Bình. Độ ẩm 13,45%, độ tro
43,79%, S 0,84%, phot pho 0,01-0,025%, nhiệt lợng 3964 Kcal/kg, trữ lợng
1.323.000 tấn. Mỏ than bùn An Thắng phân bố tại xã An Thắng, huyện An Lão. Mỏ
nằm trên đồng bằng chỉ cao 1-2 m và trấm tích than thuộc tầng Thái Bình, nằm nông
gần mặt đất, chỉ sâu 0,5-1,5 m. Độ ẩm 15,82%, độ tro 28,63%, chất bốc 39,34%,
nhiệt lợng 1611 Kcal/kg, trữ lợng 240.000 tấn.
Ngoài hai mỏ than bùn kể trên còn nhiều điểm than bùn khác ở Hải Phòng,
Thuỷ Nguyên nhng trữ lợng không đáng kể.
+ Đá phiến cháy và khí đốt: Mỏ khí đốt Tiền Hải phân bố tại Huyện Tiền
Hải. Mỏ có 13 vỉa khí có giá trị công nghiệp nằm trong các đá trầm tích Mioxen ở
độ sâu 790-1200 m. Đó là các vỉa khí cháy cac bua hyđro không có heli và không có
thành phần H
2
S có hại. Trữ lợng thăm dò đợc tính lại năm 1991 là 1.263 triệu m
3
khí.
10
Gần đây công ty TNHH ANZOIL của úc đã tìm ra mỏ khí mới ở Thái Thọ,
dự báo trữ lợng gấp 30 lần trữ lợng mỏ khí Tiền Hải. Ngoài ra, tại giếng khoan
B.10 Thuỵ Trờng (Thái Thuỵ) đã bắt gặp một vỉa dầu, cả hai mỏ này hiện nay đợc
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam cùng nhà thầu mở rộng thăm dò pha 2.
Khí đốt chủ yếu đợc sự dụng trong tuốc bin khí và cho công nghiệp địa
phơng nh xí nghiệp xi măng trắng, sứ cách điện, sứ men, sứ thuỷ tinh
b. Các khoáng sản kim loại.
ở vùng ven biển tơng đối nghèo, chỉ mới phát hiện đợc titan sa khoáng ở
ven biển.
- Mỏ titan - ziricon Hoàng Châu thuộc huyện Cát Hải nằm ở ven biển trong
trầm tích biển ở độ cao 1,5-2 m dới dạng sa khoáng.
- Mỏ Titan Thái Ninh - Đồng Chùa phân bố ở Thái Ninh thuộc huyện Thái
Thuỵ, trầm tích sa khoáng ven biển, quặng imenit là chủ yếu và đợc đánh
giá trữ lợng cấp P
2
đạt 6.083 tấn quặng Titan, thuộc loại mỏ nhỏ.
Ngoài 2 mỏ nhỏ ở trên quặng sa khoáng Titan (imenit) còn biểu hiện ở Cồn
Đen thuộc huyện Thái Thuỵ.
c. Khoáng sản không kim loại.
+ Dolomit: có hai mỏ ở Hải Phòng đó là mỏ Suối Ba và Công Đất với trữ
lợng 1762800 tấn. Dolomit nằm xen trong đá vôi tuổi Đêvon trung có thành phần
hoá học CaO 32-34%, MgO 18,14-19,86%, SiO
2
0,14-0,16%, Al
2
O
3
0,5%.
+ Photphorit: có 5 mỏ ở Hải Phòng (Phố Mới, Hang Dơi, phố Hàn, Khoan
Đất, Nam đờng 18 A) với tổng trữ lợng đạt 6905000 tấn trong đó cấp C
1
2660 tấn,
cấp C
2
500 tấn, cấp P là 3700 tấn. Nhìn chung trữ lợng photphorit trong vùng quá
ít, hàm lợng P
2
O
3
thấp 6-10,75%, không có triển vọng phát triển công nghiệp.
+ Silic hoạt tính: có 2 mỏ ở Hải Phòng.
- Mỏ silic hoạt tính Pháp cổ ở xã Pháp Cổ huyện Thuỷ Nguyên, ở độ cao từ 5-
50 m trong đồi sót. Mỏ có nguồn gốc phong hoá từ các đá trầm tích, mỏ lộ
thiên, trữ lợng đạt 71569331 tấn, thuộc loại mỏ lớn.
- Mỏ silic hoạt tính Cát Bà phân bố ở thị trấn Cát Bà, mỏ ở độ cao bên sờn đồi
từ 10-160 m. Thuộc loại mỏ phong hoá từ các đá trầm tích, lộ thiên, trữ lợng
10.000.000 tấn, thuộc loại mỏ lớn.
1.2.4. Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học.
a. Thuỷ sản nội đồng.
Thành phần các loài thuỷ sản nớc ngọt tơng đối phong phú, có thể kể đến
một số loài điển hình nh sau: cá mè trắng, cá mè hoa, cá trôi, cá trắm cỏ, cá rô phi,
cá chép. Ngoài ra còn có thêm nhiều loài cá dữ nh cá quả, cá ngão, cá lăng, cá
nheo, cá chày, cá trích, cá bống, cá né. ở ao ruộng còn có thêm một số loài cá phổ
11
biến nh cá rô, cá diếc, cá mại, cá trê, lơn, cua, ốc, ba ba và kể cả ếch. Trong số đó
có nhiều loài có giá trị kinh tế cao nh cá chép, cá quả, lơn, ếch, ba ba, tôm nớc
ngọt, trai, ốc dọc theo sông ngòi có rất nhiều loài cá biển đã xâm nhập sâu vào
phần thợng nguồn và các thuỷ vực nớc ngọt. Trong số đó bộ cá Vợc là bộ thống
trị của các khu hệ các biển và số đông đã xâm nhập vào các thuỷ vực nớc ngọt
(16,5%). Sau bộ cá Vợc là cá Trích (7,5%), bộ cá Bơn (5,6%) những họ có nhiều
loài xâm nhập vào nớc ngọt là cá bống, cá úc, cá bơn. Khoảng cách xâm nhập của
chúng có khi vào sâu tới 300-600m, tính từ hạ lu. Trong số đó có nhiều loài sống
chung đợc và thậm chí cạnh tranh đợc với một số loài cá nớc ngọt
Nh vậy, với hệ sinh thái nớc ngọt (độ mặn nhỏ hơn 5%o) nhiều loài thuỷ
sản có thể thích hợp và phát triển tốt, đây là một tiềm năng lớn của vùng ven biển
ĐBSH.
b. Sinh vật ven biển cửa sông
+ Tài nguyên thực vật bãi bồi cửa sông ven biển.
Thành phần loài vùng trên triều và vùng triều: tổng số loài thực vật bậc cao
phát hiện 197 loài thuộc 62 họ. Thực vật bao gồm cả cây tự nhiên và cây trồng,
trong đó cây mọc tự nhiên chiếm u thế với 95% số loài, cây lợ diện tích phân bố
lớn là sú, vẹt rễ lồi, đớc vòi, mắm quăn, cỏ ngạn, bần chua. Còn lại 5% là cây trồng
trong đó có diện tích đáng kể là cói bông trắng, lúa chịu mặn, phi lao, khoai lang,
dâu tằm, bạch đàn, trang
Các loài cây ngập mặn quan trọng nhất là trang, vẹt, bần chua, trong số đó
trang là cây chiếm u thế do có khả năng phát triển tốt trên đất phù sa mới bồi, bộ rễ
chùm phát triển khoẻ, chịu mặn, tuy nhiên chiều cao chỉ đạt trung bình 2-3 m và mật
độ trồng tơng đối dày 4400-6400 cây/ha. Mặc dù rừng ngập mặn ở vùng ven biển
không lớn nhng diện tích cũng đáng kể. Riêng huyện Kim Sơn diện tích rừng ngập
mặn chiếm trên 800 ha, huyện Tiền Hải (Thái Bình) khoảng 2000 ha
+ Tiềm năng cây trồng nông nghiệp: Đặc điểm lớn của vùng bãi bồi ven biển
đồng bằng sông Hồng là có tiềm năng lớn về cây trồng nông nghiệp do tốc độ quai
đê lấn biển lớn. Ngoài ra đất ven biển còn trồng đợc khoai lang tuy sản lợng
không cao, một số rau quả nh: bắp cải, cà chua, rau muống Cùng với lúa, khoai
lang, ngô, lạc là những giống cây lơng thực đã đợc đa vào sản xuất có hiệu quả
là các tập đoàn cây ăn quả đang từng bớc hình thành do sự tuyển chọn tự phát của
nhân dân địa phơng. Trong số các cây ăn quả đợc trồng tại đây có một số giống
cam, chanh, chuối đang tỏ ra có nhiều triển vọng lớn.
+ Tiềm năng các cây công nghiệp: Trong số các loài cây công nghiệp nổi bật
hơn cả là cói. Cây cho nguyên liệu dệt chiếu: cói bông trắng trồng từ Tiên Lãng -
Thanh Hoá, không kể cói đồng, cói bãi có năng suất 3-6 tấn/ha/vụ. Một vài nơi có
điều kiện làm hàng xuất khẩu, về giá trị thu nhập gấp 4-5 (thậm chí 10 lần) lần so
với diện tích trồng lúa tơng đơng. Hiện nay cói chủ yếu đợc trồng ở Kim Sơn,
Ninh Bình, tại đây chiếm trên 50% diện tích trồng cói của toàn dải. Ngoài cói, các
cây có khả năng phục vụ cho nhu cầu công nghiệp khác phải kể là lạc, đậu tơng
(phục vụ cho công nghiệp chế biến dầu thực phẩm), sậy, phi lao (công nghiệp chế
12
biến gỗ), sú vẹt, trang (công nghiệp chế biến chất thuộc da). Đặc biệt cần quan tâm
trong thời gian tới là nhóm cây cho tanin (thuộc da). Đây là nhóm có diện tích lớn
và có khả năng sử dụng cao, trong khi hiện nay chúng ta hầu nh cha khai thác
+ Nhóm các cây làm thuốc và cho tinh dầu: Các loài có giá trị làm thuốc có
khoảng 80 loài chiếm 50% tổng số loài đã phát hiện có tác dụng điều trị tại chỗ các
bệnh: đau bụng, giải độc, rắn độc cắn, lỵ, tả, côn trùng cắn, cầm máu, bỏng,
sốt loài tuy nhiều nhng trữ lợng tự nhiên không đáng kể. Thuộc nhóm này hiện
nay mới chỉ khai thác củ gấu biển sử dụng trong đông y với dợc liệu khô mang tên
hơng phụ. Thực ra hơng phụ là củ khô của cây củ gấu đợc sử dụng rộng rãi ở các
nớc khác (Trung Quốc). Vùng bãi bồi ven biển, củ gấu mọc rải rác và năng suất
không đáng kể. Ngoài ra các loài cây thuốc khác nh cà độc dợc, màn kinh tử, cà
trái vàng, rau xam hầu nh cha đợc khai thác hoặc mới chỉ sử dụng rất hạn chế.
+ Thực vật nổi.
Thành phần loài thực vật nổi khu ven bờ cửa sông Bắc Bộ rất phong phú và đa
dạng, đến nay đã xác định 217 loài thực vật nổi và chủ yếu là tảo lục, tảo lam, tảo giáp,
tảo silic. Các loài thực vật nổi đợc chia thành các nhóm sinh thái khác nhau:
Sự phát triển về số lợng và sinh vật lợng của thực vật nổi phụ thuộc vào
nồng độ muối, dòng chảy, ánh sáng, nhiệt độ và thờng đạt giá trị cao vào mùa
khô và lúc triều cờng, giảm trong mùa nớc lũ và khi nớc ròng.
Thời kỳ mật độ thực vật nổi cao là tháng 10, 11 và 4, 5 và liên quan đến khối
nớc biển xâm nhập vào các cửa sông rộng và vào nơi có độ sâu lớn, mật độ thực vật
nổi tăng dần từ cửa Văn úc, Thái Bình đến cửa Ba Lạt và hình thành những điểm có
mật độ và sinh khối cao tại các cửa sông ít nớc ngọt nhng lại bị khống chế mạnh
bởi thuỷ triều nh cửa Diêm Điền, cửa Lân và cửa Ninh Cơ ( tại cửa sông Ninh Cơ,
mật độ thực vật nổi nhiều hơn khu vực cửa Ba Lạt trên 3 lần và nhiều hơn khu vực
Cửa Đáy đến 29 lần). Kết quả nghiên cứu thực vật nổi vùng cửa sông Ba Lạt trong
tháng 10/1993 cho thấy mật độ thực vật nổi cao từ 16-60 triệu tb/m
3
, cao hơn thời kỳ
tháng 1 cũng trong khu vực này đến hàng chục lần.
c. Động vật nổi khu vực bãi bồi cửa sông.
Động vật nổi là khâu quan trọng nhất trong mắt xích thức ăn của thuỷ vực,
chính là đối tợng tiêu thụ thực vật nổi, đồng thời cũng là nguồn thức ăn của
thuỷvực. Thành phần loài động vật nổi vùng ven biển Bắc Bộ rất phong phú và đa
dạng, cho đến nay đã xác định đợc 123 loài động vật nổi và phân chia theo các
nhóm sinh thái nh sau:
- Nhóm sinh thái nớc ngọt.
- Nhóm sinh thái nớc lợ.
- Nhóm sinh thái nớc nhạt.
Cũng nh thực vật nổi, đặc điểm phân bố động vật nổi phụ thuộc vào nhiều
yếu tố môi trờng tự nhiên đồng thời lại có mối liên quan chặt chẽ với sự phát triển
của thực vật nổi. Tại các khu vực cửa sông, mật độ động vật nổi thờng thấp nhất,
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét