LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp mở rộng tín dụng đối với các dnvvn tại nhno tây hà nội": http://123doc.vn/document/1047452-giai-phap-mo-rong-tin-dung-doi-voi-cac-dnvvn-tai-nhno-tay-ha-noi.htm
Với nguồn vốn đầu t ban đầu nhỏ để có thể bắt đầu hoạt động sản
xuất kinh doanh, khu vực này đã thu hút đợc một số lợng lớn các nhà đầu t
khiến chúng trở thành khu vực sôi động nhất trong nền kinh tế.
- Các DNVVN thích nghi nhanh với những thay đổi của khoa học công
nghệ, và có thể dễ dàng nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ là những tác động
mạnh mẽ của nó đối với nền kinh tế, trong từng phơng thức hoạt động sản
xuất kinh doanh, trong việc đổi mới trang thiết bị máy móc, tăng năng suất
lao động, rút ngắn thời gian tồn tại của một mặt hàng. Công nghệ cao hơn
sản xuất ra những mặt hàng có nhiều u điểm hơn vì vậy máy móc luôn yêu
cầu phải khấu hao nhanh để chuyển sang sản xuất mặt hàng mới với thiết bị
công nghệ mới. Nh vậy với đặc điểm nguồn vốn đầu t ban đầu không lớn
các DNVVN sẽ có lợi thế hơn so với các DNL khi mà việc thay đổi theo kịp
công nghệ mới sẽ đồng nghĩa với việc phải thay đổi đồng loạt toàn bộ một
số lợng lớn các trang thiết bị máy móc với số tiền đầu t không nhỏ, yêu cầu
một lợng vốn lớn.
- Các DNVVN có tính năng động, linh hoạt trong kinh doanh
Đặc điểm này thể hiện khi so sánh với các DNL. Với quy mô nguồn
vốn, cơ sở vật chất nhỏ gọn, các DNVVN dễ dàng thích ứng với những biến
đổi của thị trờng hay trớc những biến đổi từ phía ngời tiêu dùng. Các DNL
thờng tập trung vào cung cấp những sản phẩm có tính lâu dài và ổn định
trên thị trờng. Trong khi đó các DNVVN lại linh hoạt hơn và có thể nắm
bắt những thay đổi nhỏ của sản phẩm, từ đó có thể chuyển hớng kinh doanh
và chuyển đổi mặt hàng nhanh hơn, đồng thời có thể tăng giảm lao động dễ
dàng vì có thể sử dụng nguồn lao động thời vụ.
- Các DNVVN có hiệu suất tạo việc làm cao hơn các DNL
Nếu so về quy mô lợng vốn đầu t cũng nh tổng số lao động có thì
DNVVN nhỏ hơn rất nhiều so với các DNL. Do đó, mà tỷ lệ vốn đầu t trên
một lao động của các doanh nghiệp này cũng thờng nhỏ hơn so với các
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
5
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
DNL. Nh vậy DNVVN có hiệu suất tạo việc làm cao hơn so với các DNL.
Trong khi các DNL phải bỏ ra một số vốn đầu t lớn hơn mới có thể tạo ra
việc làm cho một lao động, các DNVVN vẫn có thể tạo ra việc làm cho ng-
ời lao động với số vốn ít hơn.
- Tổ chức sản xuất, quản lý các DNVVN gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí
Với số lợng lao động không nhiều, việc tổ chức sản xuất cũng nh bộ
máy quản lý trong các DNVVN tơng đối nhỏ gọn, không có quá nhiều các
khâu trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp,
các quyết định, chế độ, chỉ tiêu đến với ng ời lao động một cách nhanh
chóng. Cũng vì thế công tác kiểm tra giám sát đợc tiến hành chặt chẽ,
không phải qua nhiều khâu trung gian, tiết kiệm đợc chi phí cho quản lý
doanh nghiệp.
- Mối quan hệ giữa ngời quản lý và lao động trong DNVVN tơng đối
chặt chẽ
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh ngời lao động nếu có những ý t-
ởng sáng kiến góp phần vào hiệu quả kinh doanh có thể trao đổi trực tiếp
với lãnh đạo. Những khó khăn trong công việc từ đó cũng đợc giải quyết
nhanh chóng. Trong một doanh nghiệp mà số lao động không lớn ngời lãnh
đạo có thể nắm bắt và hiểu đợc đời sống cũng nh tâm t nguyện vọng của
từng thành viên trong doanh nghiệp. Do vậy, lãnh đạo có thể có những ph-
ơng án bố trí công việc cho phù hợp với khả năng và trình độ của từng ngời
nhằm tận dụng đợc hết khả năng của mỗi công nhân viên tại vị trí công việc
đợc giao.
Những khó khăn của DNVVN
- Thiếu vốn
Đây là tình trạng phổ biến của đa số các DNVVN. Các DNL với khả
năng thu hút vốn từ nhiều kênh khác nhau nh kênh phát hành trái phiếu
công ty, kênh phát hành cổ phiếu, kênh tín dụng ngân hàng Trong khi đó
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
6
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
các DNVVN lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc khai thác vốn. Để bắt
đầu đi vào hoạt động kinh doanh rất nhiều doanh nghiệp dựa vào nguồn vốn
của chủ sở hữu hay từ nguồn vay mợn bạn bè ngời thân gia đình . Trong
quá trình kinh doanh, bên cạnh nguồn tín dụng thơng mại thì các DNVVN
gần nh chủ yếu trông chờ vào nguồn tín dụng từ các NHTM. Tuy nhiên,
việc khai thác nguồn này đối với DNVVN cũng lại gặp không ít khó khăn.
Các NHTM thờng không mặn mà lắm trong việc cấp tín dụng cho các
DNVVN do các NHTM cho rằng tỷ lệ rủi ro cao, và tâm lý các ngân hàng
thờng muốn giữ mối quan hệ làm với một số lợng nhỏ các khách hàng lớn
thay cho một số lợng lớn các khách hàng nhỏ. Bên cạnh đó, hàng loạt các
vấn đề khác nh tài sản thế chấp, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh
nghiệp, chi phí tín dụng cũng là những nguyên nhân khiến cho khả năng
tiếp cận với nguồn vốn tín dụng của DNVVN gặp không ít khó khăn.
- Trình độ công nghệ thiết bị thờng yếu kém lạc hậu, chậm đổi mới
Do thiếu vốn, năng lực tài chính hạn chế, các DNVVN thờng đầu t
vào các máy móc có công nghệ kỹ thuật ở mức trung bình, đơn giản, nên
năng suất lao động thấp, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Rất ít
doanh nghiệp đợc trang bị trang thiết bị công nghệ hiện đại, trừ khi liên
doanh với nớc ngoài. Hơn nữa, DNVVN rất khó có thể tiếp cận khoản tín
dụng trung dài hạn cần thiết để nâng cấp thiết bị, công nghệ. So với các
DNL, các DNVVN rất khó tiếp cận với thị trờng công nghệ máy móc thiết
bị quốc tế. Do thiếu thông tin về thị trờng này, các DNVVN cũng khó tiếp
cận những dịch vụ t vấn hỗ trợ trong việc xác định công nghệ thích hợp và
hiệu quả, giúp các doanh nghiệp nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ, tăng
sức cạnh tranh.
- Khả năng tiếp cận và xử lý thông tin thị trờng hạn chế
Do quy mô nhỏ, hoạt động trong phạm vi hẹp, thiếu mạng lới thu
thập thông tin và các mối quan hệ rộng, các DNVVN thờng gặp nhiều khó
khăn trong việc thu thập và phân tích các thông tin từ thị trờng về nguyên
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
7
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
vật liệu, trình độ công nghệ, xu hớng phát triển tới của ngành nghề mình
đang kinh doanh, đối thủ cạnh tranh Hơn nữa việc xử lý thông tin của
DNVVN còn hạn chế, ngay cả khi có những thông tin cần thiết, các doanh
nghiệp cũng gặp khó khăn khi xử lý do những hạn chế trong khả năng phân
tích và đa ra những dự đoán, những chiến lợc kinh doanh cụ thể.
- Trình độ kỹ năng quản lý còn hạn chế
Tỷ lệ các chủ doanh nghiệp đợc đào tạo cơ bản không cao, chủ yếu
thực hiện tổ chức quản lý theo kinh nghiệm. Nhiều chủ doanh nghiệp thiếu
những kiến thức cơ bản để lập các chiến lợc kinh doanh, định hớng phát
triển cho doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê, trong đội ngũ các chủ
DNVVN ở nớc ta hiện nay có đến 10- 15% chủ doanh nghiệp chỉ có trình
độ văn hoá cấp tiểu học; 45- 50% chủ doanh nghiệp chỉ có trình độ văn hoá
phổ thông cấp II; 30- 35% có trình độ văn hoá phổ thông trung học, cao
đẳng và đại học; một tỷ lệ nhỏ 2- 3% chủ doanh nghiệp đợc đào tạo kiến
thức quản lý doanh nghiệp chính quy, một số ít (20- 30%) đợc tập huấn
ngắn hạn (dới 6 tháng) còn lại đại bộ phận chỉ quản lý doanh nghiệp bằng
kinh nghiệm. Trong môi trờng kinh doanh hiện đại thì việc chủ yếu tổ chức
quản lý theo kinh nghiệm của chủ các doanh nghiệp là không phù hợp.
Công việc quản lý trong môi trờng hiện nay không chỉ đòi hỏi kinh nghiệm
mà còn đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, khả năng hiểu biết, nắm bắt, tổng
hợp và xử lý thông tin để có thể đa ra những quyết định kịp thời.
- Trình độ tay nghề công nhân thấp
Đây là một khó khăn đang tồn tại ở hầu hết các DNVVN. Trình độ
tay nghề kỹ thuật của ngời lao động trong các doanh nghiệp là tơng đối
thấp, số lợng lao động có tính chất phổ thông, có trình độ đơn giản cha qua
đào tạo thờng chiếm khoảng 50- 60% lao động. Tại một số vùng nông thôn,
số công nhân có trình độ tay nghề đợc đào tạo cơ bản có khi chỉ chiếm
khoảng 10%. Con số này cũng là nguyên nhân làm giảm năng suất lao động
tại các DNVVN. Nhiều doanh nghiệp phải đào tạo lại cho lao động ngay
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
8
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
sau khi tuyển dụng, điều này cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp do việc
đào tạo lại làm tăng chi phí. Do đó các doanh nghiệp thờng phải kết hợp
giữa vừa lao động vừa đào tạo.
- Thị trờng tiêu thụ sản phẩm nhỏ bé
Thị trờng tiêu thụ sản phẩm của các DNVVN gặp không ít khó khăn
xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân chủ yếu là quyền sở hữu
công nghiệp cha đợc thực hiện nghiêm túc, sản phẩm, dịch vụ của các
doanh nghiệp luôn bị tấn công do việc xuất hiện các mặt hàng làm giả,
hàng nhái, hàng nhập lậu. Cùng với sự độc quyền của một số DNL khiến
sức cạnh tranh của DNVVN lại càng giảm trên thị trờng nội địa. Đây chính
là do sự yếu kém của công tác tổ chức quản lý thị trờng. Đối với các doanh
nghiệp hớng sản phẩm của mình chủ yếu dành cho xuất khẩu, nhiều vấn đề
nảy sinh cần đợc khắc phục nh việc hạn chế về công nghệ dẫn đến mặt hàng
xuất khẩu cha đa dạng, chất lợng và tính cạnh tranh cha cao cộng với khả
năng tiếp cận thị trờng kém. Rất ít doanh nghiệp tham gia thơng mại điện tử
trên mạng, giới thiệu chào hàng trên mạng, tham gia hội trợ triển lãm. Khi
ký hợp đồng làm ăn thờng bị ép giá qua các đối tác trung gian, việc thiếu
am hiểu luật pháp quốc tế và thơng mại quốc tế cũng khiến doanh nghiệp
chịu nhiều thua thiệt.
- Thiếu một chiến lợc kinh doanh cụ thể
DNVVN thờng bị động trớc những biến đổi từ phía thị trờng, khách
hàng, do thiếu những chiến lợc kinh doanh cụ thể. Công tác hoạch định
chiến lợc kinh doanh tại các DNVVN cha đợc coi trọng, một phần do doanh
nghiệp thiếu vốn, do doanh nghiệp cha nhận thức đợc tầm quan trọng của
công tác này. Việc doanh nghiệp có những chiến lợc cụ thể nh chiến lợc về
nguyên vật liệu, chiến lợc về tiêu thụ sản phẩm, chiến lợc cạnh tranh là rất
cần thiết giúp doanh nghiệp luôn chủ động đối phó trớc những thay đổi từ
môi trờng kinh doanh, đảm bảo cho công việc sản xuất kinh doanh luôn đợc
diễn ra liên tục.
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
9
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
Nhận xét: Nhìn vào những khó khăn các DNVVN đang phải đối mặt thì có
thể nhận thấy rằng thiếu vốn là nguyên nhân căn bản và cũng từ đó làm
xuất hiện những tồn tại khác. Thực lực kinh tế yếu dẫn tới khả năng vay vốn
tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp kém. Bên cạnh đó môi trờng thể chế,
chính sách kinh tế còn nhiều khiếm khuyết cha tạo điều kiện bảo đảm cho
sự phát triển cua khu vực này. Chính vì thế các DNVVN phải đối mặt với
rất nhiều khó khăn nếu nh không có những chính sách cụ thể để hỗ trợ từ
phía các NHTM, các cơ quan quản lý để mở đờng cho sự phát triển hơn nữa
trong tơng lai.
1. 1. 3 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mặc dù có những bất lợi nhất định, nhng với đặc điểm, tính chất và
lợi thế riêng, các DNVVN lại có vai trò tác động rất lớn đến kinh tế- xã hội
của một quốc gia.
1. 1. 3. 1 DNVVN đóng góp quan trọng đối với sự gia tăng thu nhập quốc dân
Hầu hết các nớc tỷ lệ đóng góp vào thu nhập quốc dân của khu vực
kinh tế này luôn chiếm tới trên dới 50% GDP. Số liệu thống kê ở nớc ta
cho biết tính đến 4/2002 cả nớc có 81.548 doanh nghiệp đợc thành lập với
tổng số vốn là trên 70.000 tỷ đồng. Trong tổng số 81.548 doanh nghiệp đợc
thành lập số doanh nghiệp có số lao động dới 300 ngời chiếm tới 97.8% t-
ơng đơng với khoảng 79.754 doanh nghiệp, và số doanh nghiệp có vốn đầu
t dới 10 tỷ đồng chiếm tỷ lệ là 95,6% tơng đơng với 77.960 doanh nghiệp.
Theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW thì hiện nay khu
vực DNVVN đóng góp vào 24% GDP của đất nớc (Báo cáo Hoàn thiện
các chính sách kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính để thúc đẩy
phát triển các DNVVN ở Việt Nam trang 5 ).
1. 1. 3. 2 Tạo việc làm tăng thu nhập ngời lao động
Tuy gặp nhiều khó khăn đặc biệt là thiếu vốn nhng khu vực này lại có
khả năng tạo ra công ăn việc làm cho ngời lao động vợt trội nếu so với các
DNL, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Theo số liệu thống
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
10
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
kê tại hầu hết các nớc, DNVVN tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 40-
70% lao động các nớc. Với đặc điểm của mình, các DNVVN có khả năng
thu hút đợc một số lợng lớn và đa dạng các thành phần lao động từ lao
động có trình độ kĩ thuật cao tới lao động thủ công đơn giản phù hợp với
yêu cầu của công việc. Tại nớc ta số liệu thống kê cho biết số lao động th-
ờng xuyên trong các DNVVN chiếm tới 56,3% tổng số lao động của cả n-
ớc, và thu hút một lợng lớn trong tổng số 1,2 triệu ngời gia nhập thị trờng
ngời lao động hàng năm. Các DNVVN nớc ta trong thời gian gần đây rất
chú trọng phát triển đầu t kinh doanh vào lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, khơi
dậy các làng nghề. Hiện nay cả nớc có trên 1400 làng nghề trong đó 2/3 là
các làng nghề truyền thống có từ hàng trăm năm nay. . . Nhiều sản phẩm
thủ công mỹ nghệ là đặc trng của địa phơng đã đợc xuất khẩu và đợc thị tr-
ờng trong và ngoài nớc đánh giá cao, tạo một nguồn thu lớn cho các làng
nghề, tăng thu nhập cho ngời dân địa phơng.
1. 1. 3. 3 Cung cấp sản phẩm tiêu dùng nội địa và xuất khẩu với khối l-
ợng ngày càng lớn và đa dạng hoá
Hiện nay, các DNVVN ở Việt Nam tồn tại và phát triển trong tất cả
các lĩnh vực của nền kinh tế, sản xuất một khối lợng sản phẩm đa dạng
phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Năm 2002, giá trị sản lợng
công nghiệp khu vực DNVVN tạo ra chiếm 28% tổng giá trị sản lợng công
nghiệp của cả nớc và chiếm 35% sản lợng các hàng hoá tiêu dùng cần thiết.
Đặc biệt đối với những ngành nghề thủ công hớng sản phẩm tới xuất khẩu
nh mây tre đan, gốm sứ xuất khẩu thì quy mô lớn lại không hiệu quả bằng
quy mô VVN. Đây là những ngành mà nguồn nguyên vật liệu có sẵn dùng
cho sản xuất là rất lớn tuy nhiên lại chia thành những khoản nhỏ lẻ, không
tập trung vào một vùng nhất định. Các DNL không thể khai thác nguồn
nguyên vật liệu đó nếu chúng không đợc tập trung thành một vùng cung cấp
đủ mạnh. Trong khi đó với quy mô vừa và nhỏ cũng nh tính linh động, các
DNVVN lại rất phù hợp để có thể khai thác nguồn lực sẵn có này, cộng với
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
11
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
lợi thế cạnh tranh về giá thành sức lao động nên các mặt hàng xuất khẩu
của khu vực này có u thế và phát triển mạnh mẽ.
1. 1. 3. 4 Khai thác và chế tạo nguồn lực cho sự nghiệp CNH- HĐH ở nớc
ta
Các nớc trên thế giới đã công nhận rằng khu vực DNVVN đóng một
vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế. Tuỳ vào sự phát triển
cũng nh đặc thù riêng của mỗi nớc mà vai trò đó đợc thể hiện khác nhau.
Đối với các nớc có nền công nghiệp phát triển nh Đức, Mỹ và đặc biệt là
Nhật bản, một đất nớc có rất nhiều tập đoàn lớn, nhng DNVVN vẫn đợc coi
là nguồn lực quan trọng đảm bảo cho sức sống của nền kinh tế, là bộ phận
hợp thành quan trọng của cơ cấu quy mô nhiều tầng của các doanh nghiệp.
Đối với các nớc đang phát triển thì ngoài vai trò là bộ phận hợp thành của
nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, đóng góp vào tăng trởng kinh
tế, DNVVN có vai trò quan trọng trong trong quá trình CNH- HĐH đất n-
ớc. Tại Việt Nam sự phát triển DNVVN đã tạo ra nhiều chuyển biến hết sức
quan trọng, từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ thuần nông là chủ yếu sang một
nền kinh tế có đủ cơ cấu theo hớng hình thành một xã hội văn minh hiện
đại. Mấy năm gần đây bộ mặt kinh tế của nhiều vùng đã thay đổi. Nhiều
cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mới đợc hình thành, nhiều làng
nghề đợc khôi phục và phát triển, đi đôi với giao thông, điện nông thôn phát
triển thúc đẩy công nghiệp và các ngành thơng mại dịch vụ phát triển. Khu
vực thành thị, DNVVN góp phần làm tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch
vụ, thu hẹp dần tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế. Có thể nói sự
phát triển của DNVVN đã đẩy nhanh quá trình CNH- HĐH đất nớc.
1. 1. 3. 5 Đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Với đặc điểm yêu cầu vốn ban đầu không nhiều nên các DNVVN có
vai trò và tác dụng lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi
trong dân c để đầu t vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tại các khu vực
nông thôn nơi tập trung nhiều làng nghề truyền thống là môi trờng tốt để
các doanh nghiệp đầu t, kéo theo sự phát triển của các ngành thơng mại
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
12
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
dịch vụ từ đó thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm
giảm tỷ trọng của nền nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân tăng tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ.
1. 1. 4 Những nhân tố thúc đẩy sự phát triển của các DNVVN ở Việt Nam
+ Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nớc
Kể từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thức 6 (tháng 12/1986) và sự ra
đời của Luật công ty và Luật doanh nghiệp t nhân năm 1991 các DNVVN
đã đợc chú trọng và ngày càng có cơ hội phát triển. Ngày 20/6/1998 Chính
phủ ban hành công văn số 681/CP- KTN qui định về định hớng chiến lợc
và các chính sách phát triển các DNVVN tạo điều kiện cho các DNVVN
có những bớc phát triển mạnh mẽ. Năm 1991 cả nớc có khoảng 480
DNVVN thì năm 1995 đã có tới gần 15.300 doanh nghiệp, tăng hơn 60 lần
so với năm 1991. Đặc biệt, năm 2000 Luật Doanh nghiệp ra đời, số doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh trong năm đã lên tới 14.400 doanh nghiệp
( Nguồn: Bộ kế hoạch đầu t ). Ngày 23/11/2001 Chính phủ tiếp tục ban
hành Nghị định số 90/2001/NĐ- CP ra quy định về việc trợ giúp phát triển
các DNVVN khẳng định Phát triển DNVVN là một nhiệm vụ quan trọng
trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội, Nhà nớc khuyến khích và tạo điều
kiện thuận lợi cho các DNVVN phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao
trình độ quản lý, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối
liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và
khả năng trên thị trờng, phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và
nâng cao đời sống cho ngời lao động. Đồng thời Chính phủ cũng đề ra các
chơng trình trợ giúp DNVVN nh: Khuyến khích đầu t, trợ giúp thông tin,
thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng, t vấn đào tạo nguồn nhân lực Ngay sau
đó ngày 28/11/2001 Thủ tớng Chính phủ ban hành chỉ thị số 28/2001/CT-
TTg về việc tiếp tục cải tạo môi trờng kinh doanh thuận lợi cho DNVVN.
Đây có thể coi là những động thái mạnh mẽ tích cực của Đảng và Nhà nớc
nhằm hỗ trợ phát triển các DNVVN.
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
13
Trịnh Minh Việt Ngân Hàng 42B- Đại Học KTQD
+ Nguồn vốn phát triển DNVVN
Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình kinh doanh và thành
phần kinh tế muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều phải có nguồn vốn tự
có, đây là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp bắt đầu hoạt động sản
xuất kinh doanh, là tấm đệm để các doanh nghiệp vợt qua những khó khăn
trong quá trình hoat động. Lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp thờng đ-
ợc giữ lại một phần để bổ xung vào nguồn vốn tự có. Tuy nhiên trong quá
trình hoạt động kinh doanh các DNVVN không thể chỉ dựa vào nguồn vốn
tự nhỏ bé của mình, để phát triển các doanh nghiệp thờng tìm kiếm các
nguồn vốn từ bên ngoài, các nguồn này thờng chia thành nguồn chính thức
và phi chính thức. Nguồn chính thức có thể là từ thị trờng chứng khoán,
vay NHTM, vốn ngân sách cấp, vốn viện trợ của quỹ hỗ trợ phát triển
Tuy nhiên, việc tiếp cận các nguồn này đối với DNVVN là tơng đối khó
khăn. Do đó, các DNVVN lại thờng dựa vào nguồn phi chính thức nh vay
bạn bè ngời thân, vay nặng lãi
+ Môi trờng khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực
Trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh
với nhau để cung ứng những sản phẩm có u thế cả về chất lợng cũng nh giá
cả so với đối thủ cạnh tranh. Muốn vậy các doanh nghiệp luôn phải đầu t
ứng dụng khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất kinh doanh, nâng cao
trình độ của ngời quản lý cũng nh trình độ tay nghề của ngời công nhân.
Mặc dù có nhiều tổ chức trong và ngoài nớc hỗ trợ DNVVN trong việc tiếp
cận khoa học công nghệ và đào tạo, nhng đa số các tổ chức này hoạt động
với mục đích riêng nên hiệu quả không cao. Chính vì vậy có rất ít doanh
nghiệp tham gia hoặc nhận sự t vấn của các tổ chức này. Trong khi đó nhu
cầu về thông tin và chuyển giao công nghệ, phổ biến kiến thức là rất lớn
và cần có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nớc.
+ Chính sách hỗ trợ về thông tin thị trờng
Mở rộng tín dụng đối với DNVVN tại NHNo Tây Hà Nội
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét