Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại bảo hiểm dầu khí thăng long


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh đối với nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại bảo hiểm dầu khí thăng long": http://123doc.vn/document/1050785-mot-so-giai-phap-nham-nang-cao-nang-luc-canh-tranh-doi-voi-nghiep-vu-bao-hiem-xe-co-gioi-tai-bao-hiem-dau-khi-thang-long.htm


Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
a. Đối với bảo hiểm vật chất xe
cơ giới:
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ
xe cơ giới đối với người thứ ba:
- Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại
hình bảo hiểm tài sản và được thực
hiện dưới hình thức tự nguyện. Chủ
xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là
để được bồi thường những thiệt hại
vật chất xảy ra với xe của mình do
những rủi ro được bảo hiểm gây nên.
Vì vậy, đối tượng bảo hiểm vật chất
xe cơ giới là bản thân những chiếc xe
còn giá trị và được phép lưu hành trên
lãnh thổ quốc gia. Đối tượng bảo
hiểm có thể là toàn bộ xe hoặc một số
bộ phận tổng thành xe hay gặp tổn
thất.
- Công ty bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm
cho phần TNDS của chủ xe phát sinh
do sự hoạt động và điều khiển của
người lái xe. Như vậy đối tượng được
bảo hiểm là TNDS của chủ xe cơ giới
đối với người thứ ba (là trách nhiệm
hay nghĩa vụ bồi thường ngoài hợp
đồng của chủ xe hay lái xe cho người
thứ ba khi xe lưu hành gây tai nạn).
Bên thứ ba là những người trực tiếp
bị thiệt hại do hậu quả của vụ tai nạn
(loại trừ một số đối tượng đặc biệt).
Đối tượng được bảo hiểm không được
xác định trước. Chỉ khi nào việc lưu
hành xe gây tai nạn có phát sinh
TNDS thì đối tượng này mới được
xác định cụ thể.
1.1.2. Phạm vi bảo hiểm:
a. Đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới:
- Trong hợp đồng bảo hiểm vật chất xe, các rủi ro được bảo hiểm thông
thường bao gồm:
+ Tai nạn do đâm va, lật đổ
+ Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá
+ Mất cắp toàn bộ xe
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên
- Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc
xe được bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn
thanh toán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý
nhằm bảo vệ và hạn chế tổn thất.
Tuy nhiên trong mọi trường hợp tổng số tiền bồi thường (STBT) của
công ty bảo hiểm là không vượt quá số tiền bảo hiểm (STBH) đã ghi trên đơn
hay giấy chứng nhận bảo hiểm. Đồng thời công ty bảo hiểm sẽ không chịu
trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi:
+ Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết
tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa.
+ Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng
mà không do tai nạn gây ra.
+ Mất cắp bộ phận của xe.
- Để tránh những “nguy cơ đạo đức” lợi dụng bảo hiểm, những hành vi
vi phạm pháp luật, hay một số rủi ro đặc biệt khác cũng sẽ không được bồi
thường.
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
- Công ty bảo hiểm nhận bảo đảm cho các rủi ro bất ngờ không lường
trước được gây ra tai nạn và làm phát sinh TNDS của chủ xe. Các thiệt hại
nằm trong phạm vi trách nhiệm của công ty bảo hiểm bao gồm:
+ Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khỏe của bên thứ ba;
+ Thiệt hại về tài sản, hàng hóa… của bên thứ ba;
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Thiệt hại tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc giảm
thu nhập;
+ Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp ngăn ngừa
hạn chế thiệt hại; các chi phí thực hiện biện pháp đề xuất của công ty bảo
hiểm;
+ Những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của những người tham gia
cứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân.
- Công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các
vụ tai nạn mặc dù có phát sinh TNDS trong các trường hợp cố ý hoặc vi phạm
Luật an toàn giao thông đường bộ…
Ngoài ra, công ty bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm đối với tài sản
đặc biệt như vàng, bạc, đá quý, tiền, đồ cổ, hài cốt…
1.2. Giá trị bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm, Phí bảo hiểm:
1.2.1. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm:
a. Đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới:
Giá trị bảo hiểm (GTBH) của xe cơ giới là giá trị thực tế trên thị trường
của xe tại thời điểm người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm. Việc xác định
đúng giá trị của xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi
thường. Tuy nhiên, giá xe trên thị trường luôn có những biến động và có thêm
nhiều chủng loại xe mới tham gia giao thông nên đã gây khó khăn cho việc
xác định giá trị xe. Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường dựa trên các
nhân tố sau để xác định giá trị xe:
+ Loại xe
+ Năm sản xuất
+ Mức độ mới, cũ của xe
+ Thể tích làm việc của xi lanh…
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Một phương pháp xác định GTBH mà các công ty bảo hiểm hay áp
dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao. Cụ thể:
GTBH = Giá trị ban đầu – Khấu hao (nếu có)
STBH chủ xe mua có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn GTBH và là cơ
sở để xác định số tiền bồi thường.
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Đây là hình thức bảo hiểm trách nhiệm vì vậy không có căn cứ nào để
xác định GTBH (hay STBH). Nhưng đối với STBH, công ty bảo hiểm thường
dựa vào tình hình thiệt hại của các năm trước, khả năng đóng phí của chủ xe
để đưa ra giới hạn trách nhiệm đối với chủ xe. Trách nhiệm bồi thường của
bảo hiểm phụ thuộc vào mức độ thiệt hại gây ra cho bên thứ ba nhưng không
vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với chủ xe đã ghi trong hợp đồng. Quá giới
hạn đó, chủ xe phải tự bồi thường.
1.2.2. Phí bảo hiểm:
a. Đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới:
Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tượng tham gia bảo hiểm cụ
thể, các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:
- Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có
mức độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho
từng loại xe.
Công thức:
P = f + d
Trong đó: P – Phí thu mỗi đầu xe
d – Phụ phí
f – Phí thuần
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tình hình bồi thường tổn thất của những năm trước đó. Căn cứ vào số
liệu thống kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán được phần phí thuần “f” cho mỗi
đầu xe.
- Các chi phí khác, hay còn gọi là phần phụ phí, bao gồm các chi phí
như chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý… Phần phụ phí này thường
được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với phí bồi thường.
- Khu vực giữ xe và để xe.
- Mục đích sử dụng xe: Đây là nhân tố quan trọng giúp công ty bảo
hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra.
- Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những
người thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm có thể áp dụng giảm phí hoặc biểu phí đặc biệt cho
những khách hàng lớn hoặc ít để xảy ra tổn thất.
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Phí bảo hiểm được tính theo đầu phương tiện. Người tham gia bảo
hiểm đóng phí bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số
lượng đầu phương tiện của mình.
1.3. Giám định và bồi thường tổn thất:
Đối với cả hai hình thức bảo hiểm, khi tai nạn xảy ra, chủ xe (lái xe)
một mặt phải tìm mọi cách cứu chữa, hạn chế tổn thất, mặt khác nhanh chóng
báo cho công ty bảo hiểm biết. Khi gửi hồ sơ khiếu nại yêu cầu công ty bảo
hiểm bồi thường cần phải cung cấp những tài liệu, chứng từ như:
- Giấy chứng nhận bảo hiểm
- Biên bản khám nghiệm hiện trường
- Tờ khai tai nạn của chủ xe
- Bản kết luận điều tra tai nạn (nếu có)
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Quyết định của tòa án (nếu có)
- Các biên bản tài liệu xác định trách nhiệm của người thứ ba
- Các chứng từ liên quan đến thiệt hại của người thứ ba về con người,
tài sản (nếu có)…
Việc giám định tổn thất được công ty bảo hiểm tiến hành nhằm xác
định nguyên nhân và mức độ thiệt hại thực tế (cả với bên thứ ba). Trách
nhiệm bồi thường tổn thất như sau:
a. Đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới:
Việc tính toán STBT cho chủ xe được dựa trên 4 nguyên tắc:
- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị thực tế:
STBT = Giá trị thiệt hại thực tế x STBH / GTBH
- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm trên giá trị thực tế: Công ty bảo
hiểm bồi thường với STBT chỉ bằng thiệt hại thực tế và luôn luôn nhỏ hơn
hoặc bằng giá trị thực tế của chiếc xe. Trong thực tế chấp nhận bảo hiểm theo
“giá trị thay thế mới” tuy nhiên phí bảo hiểm khá cao và phải đảm bảo các
điều kiện bảo hiểm nghiêm ngặt.
- Trường hợp tổn thất bộ phận; Bồi thường theo một trong hai nguyên
tắc nêu trên. Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức bồi
thường bằng tỷ lệ giá trị tổng thành xe.
- Trường hợp tổn thất toàn bộ: Trong trường hợp bị mất cắp, mất tích
hoặc xe bị thiệt hại nặng đến mức không thể sửa chữa phục hồi hoặc chi phí
phục hồi bằng hoặc lớn hơn giá trị thực tế của xe sẽ được coi là tổn thất toàn
bộ. Khi này, STBT lớn nhất bằng STBH và phải trừ khấu hao cho thời gian xe
đã sử dụng hoặc chỉ tính giá trị tương đương với giá trị xe ngay trước khi xảy
ra tổn thất.
b. Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Phải xác định được thiệt hại của bên thứ ba về: Tài sản và Con người.
Như vậy, toàn bộ thiệt hại của bên thứ ba:
Thiệt hại thực tế Thiệt hại Thiệt hại
= +
của bên thứ ba về tài sản về người
Việc xác định STBT được dựa trên hai yếu tố sau:
- Thiệt hại thực tế của bên thứ ba
- Mức độ lỗi của chủ xe trong vụ tai nạn:
Số tiền Lỗi của Thiệt hại của
= x
Bồi thường chủ xe bên thứ ba
II. KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM DỊCH VỤ
CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG.
2.1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh:
2.1.1. Khái niệm cạnh tranh:
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, do cách tiếp cận
khác nhau, nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là phạm vi
của thuật ngữ này. Có thể dẫn ra như sau:
Cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa: “Cạnh tranh là sự
ganh đua, sự kình địch của các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành
cùng một loại tài nguyên sản xuất, hoặc cùng một loại khách hàng về phía
mình”.
Theo Từ điển bách khoa của Việt nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các
thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi
quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có
lợi nhất”.
Cạnh tranh, theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng việt do Nguyễn Như
Ý chủ biên (Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin) là “Tranh đua giữa những cá
nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về
mình”.
Ngoài ra còn có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh,
nhưng các học thuyết kinh tế thị trường, dù bất cứ trường phái nào cũng đều
thừa nhận rằng: Cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị
trường, nơi mà cung – cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị
trường, là đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường.
2.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh:
Căn cứ vào định nghĩa của Đại từ điển tiếng việt do Nguyễn Như Ý chủ
biên thì Năng lực cạnh tranh là “Khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh
tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ”.
Cho đến nay đã có nhiều tác giả đưa các cách hiểu khác nhau khi
nghiên cứu về cạnh tranh, các nhà nghiên cứu còn sử dụng các khái niệm
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các khái niệm này là một khái niệm phức
hợp được xem xét ở các cấp độ khác nhau: như năng lực cạnh tranh của quốc
gia, năng lực cạnh tranh của ngành, của doanh nghiệp, của sản phẩm dịch vụ.
Đẻ xem xét về khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm/nhãn mác
sản phẩm thì theo một số tác giả, đó là khả năng sản phẩm đáp ứng được nhu
cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo
hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì, dịch vụ đi kèm… hơn hẳn trong tương
quan so sánh trực tiếp với những sản phẩm hàng hóa cùng loại hoặc sản phẩm
hàng hóa tương tự cạnh tranh trên cùng một thị trường mục tiêu trong một
khoảng thời gian hoặc thời điểm nghiên cứu xác định.
Theo GS Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Trung tâm kinh tế Châu Á Thái
Bình Dương: “Khả năng cạnh tranh sản phẩm là khả năng duy trì và cải thiện
vị trí cạnh tranh sản phẩm trong hiện tại và tương lai so với các đối thủ cạnh
tranh trên thị trường nhằm thu lợi ích tối đa”.
Như vậy, còn có sự chưa thống nhất về khái niệm, song có thể hiểu
rằng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ nhãn mác sản phẩm được cấu thành
bởi nhiều yếu tố, nhưng có những yếu tố chính như: khả năng sử dụng thay
thế cho công cụ kinh tế của một loại sản phẩm khác biệt tương tự với loại sản
phẩm đó; yếu tố về chất lượng của sản phẩm; yếu tố về giá cả của sản phẩm
thường gắn liền với chủ thể sản xuất, cung ứng nó so với sản phẩm của các
chủ thể sản xuất cung ứng khác có thể thỏa mãn cao hơn yêu cầu, thị hiếu của
người tiêu dùng, được người tiêu dung lựa chọn, chấp nhận tiêu thụ, đồng thời
đem lại lợi nhuận có thể chấp nhận được cho nhà sản xuất, cung ứng; ngoài
các yếu tố chính trên còn có một số các yếu tố khác như kiểu dáng, mẫu mã
hình thức của sản phẩm, phương thức tiêu thụ, quảng cáo, bán hàng… Chính
những yếu tố trên đem lại lợi thế cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ và trực tiếp
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
góp phần chiếm lĩnh và mở rộng thị phần của sản phẩm dịch vụ trên thị
trường.
Các cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại, mật thiết với
nhau, tao điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Là tế bào
của nền kinh tế, sức cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra cơ sở cho năng lực
cạnh tranh của quốc gia. Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao
phải có nhiều ngành có sức cạnh tranh tốt có nghĩa là phải có nhiều doanh
nghiệp có sức cạnh tranh và được thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các
sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Ngược lại để tạo điều kiện
cho doanh nghiệp có sức canh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tế
phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được,
nền kinh tế phải ổn định, bộ máy Nhà nước phải trong sạch, hoạt động có tính
chuyên nghiệp và hiệu quả cao.

2.2. Sản phẩm dịch vụ:
2.2.1. Khái niệm dịch vụ:
Có nhiều cách tiếp cận khi nghiên cứu về dịch vụ, do vậy có nhiều
quan niệm về khái niệm dịch vụ. Có quan niệm cho rằng dịch vụ có thể được
hiểu là hoạt động cung ứng lao động, khoa học kỹ thuật, nghệ thuật nhằm đáp
ứng nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, đời sống vật chất tinh thần, các hoạt
động ngân hàng, tín dụng, cầm đồ, bảo hiểm… Trong kinh tế học hiện đại,
dịch vụ được quan niệm rộng rãi hơn nhiều. Dịch vụ bao gồm toàn bộ các
ngành, các lĩnh vực có tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản
phẩm quốc dân (GNP) trừ các ngành sản xuất các sản phẩm vật chất như công
nghiệp, nông nghiệp (bao gồm cả lâm, ngư nghiệp).
Với cách tiếp cận dưới góc độ là đối tượng hoạt động trao đổi (mua –
bán) của thương mại thì có thể khái niệm về dịch vụ như sau: Dịch vụ là sản
Phùng Thị Phương Thảo - BH46B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét