LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở việt nam - thực trạng và giải pháp": http://123doc.vn/document/1051790-co-phan-hoa-doanh-nghiep-nha-nuoc-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap.htm
đông sở hữu cổ phần u đãi biểu quyết);
- Cổ đông có thể là tổ chức; cá nhân; số lợng cổ đông tối thiểu là
ba và không hạn chế số lợng tối đa;
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng
theo qui định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty cổ phần có t cách pháp nhân kể từ ngày đợc cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Hay nói cách khác, công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có
t cách pháp nhân do một số ngời, một số tổ chức kinh tế xã hội tự
nguyện góp vốn dới hình thức mua cổ phiếu của công ty gọi là cổ đông.
Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần vốn góp
của mình. Điều này cho phép công ty có t cách pháp lý đầy đủ để huy
động những lợng vốn lớn nằm rải rác trong các tầng lớp dân c.
Khi công ty mới thành lập yêu cầu cần có một lợng vốn nhất định.
Trên cơ sở số vốn ban đầu công ty xác định số cổ phiếu và mệnh giá cổ
phiếu. Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông và có thể có
cổ phần u đãi. Ngoài ra, công ty cổ phần đợc phát hành trái khoán để
huy động thêm vốn.
Các cổ phiếu và trái phiếu của công ty đợc chuyển nhợng dễ dàng
trên thị trờng chứng khoán. Đồng thời, nhờ cơ chế này nó đã tạo nên sự
di chuyển linh hoạt các luồng vốn xã hội theo các nhu cầu và cơ hội đầu
t đa dạng của các công ty và công chúng.
6
II- Tại sao phải cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà
nớc
1. Đặc điểm của các doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam hiện nay:
Doanh nghiệp Nhà nớc ở nớc ta ra đời và hoạt động trong cơ chế
kế hoạch hoá tập trung với một thời gian dài. Mặt khác, do hình thành
từ những nguồn gốc khác nhau và đợc sản xuất trên cơ sở của nhiều
quan điểm nên các doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam có những đặc tr-
ng khác biệt so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới, đó là:
- Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán, biểu
hiện ở số lợng lao động và mức độ tích luỹ vốn.
- Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu (từ 2-3 thế hệ, cá biệt tới
5-6 thế hệ), trừ một số rất ít chỉ có18% số doanh nghiệp Nhà nớc đợc
đầu t mới (sau khi có chính sách đổi mới), phần lớn các doanh nghiệp
Nhà nớc đã đợc thành lập khá lâu, có trình độ kỹ thuật thấp. Vì vậy khi
chuyển sang kinh tế thị trờng, khả năng cạnh tranh cả trong nớc lẫn
quốc tế của doanh nghiệp Nhà nớc rất yếu, ảnh hởng đến hiệu quả hoạt
động, khả năng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Do những đặc điểm trên nên khi chuyển sang kinh tế thị trờng,
các doanh nghiệp Nhà nớc không còn đợc bao cấp mọi mặt nh trớc đây,
mặt khác lại bị các thành phần kinh tế khác cạnh tranh quyết liệt, nên
nhiều doanh nghiệp Nhà nớc không trụ nổi, dẫn đến phá sản, giải thể.
2. Sự hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nớc:
Trớc khi thực hiện cổ phần hoá, nớc ta có hơn 6. 000 doanh
nghiệp Nhà nớc, nắm giữ 88% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong
nền kinh tế nhng hiệu quả kinh doanh thấp, chỉ có khoảng 50% doanh
nghiệp Nhà nớc là có lãi, trong đó thực sự làm ăn hiệu quả và có triển
vọng lâu dài chỉ chiếm dới 30%. Trên thực tế doanh nghiệp Nhà nớc
7
nộp ngân sách chiếm 80-85% tổng số thu nhng nếu trừ khấu hao cơ bản
và thuế gián thu thì doanh nghiệp Nhà nớc chỉ đóng góp đợc trên 30%
ngân sách Nhà nớc. Đặc biệt nếu tính đủ chi phí, tài sản cố định và đất
theo giá thị trờng thì các doanh nghiệp Nhà nớc hầu nh không tạo ra đ-
ợc tích luỹ. Điều đó có nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc
không tơng xứng với phần đầu t của Nhà nớc cho nó cũng nh không t-
ơng xứng với tiềm lực của chính doanh nghiệp Nhà nớc.
Trình độ công nghệ còn lạc hậu, tình hình này có phần do hậu quả
nặng nề của thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp trớc đây và ảnh h-
ởng nghiêm trọng của chiến tranh. Máy móc, thiết bị đã quá lạc hậu, lỗi
thời và hiện có đến 54, 3% doanh nghiệp Nhà nớc Trung ơng và 74%
doanh nghiệp Nhà nớc đại phơng còn sản xuất ở trình độ thủ công.
Chính điều này đã gây khó khăn cho việc tăng năng suất lao động và
nâng cao chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp Nhà nớc.
Nhận thức đợc tầm quan trọng và tính tất yếu của việc cổ phần
hoá doanh nghiệp Nhà nớc, Đảng và Nhà nớc ta đã sớm đề ra chủ trơng,
chính sách cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp Nhà nớc ngay từ đầu
những năm 1990, từng bớc thực hiện và đổi mới cho phù hợp với từng
giai đoạn của tiến trình cổ phần hóa.
3. Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc:
Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về
việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần đã nêu
rõ: Chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành các công ty cổ phần nhằm các
mục tiêu:
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội trong nớc và nớc ngoài để đầu t đổi mới công
nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh
tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Nhà nớc.
8
- Tạo điều kiện để ngời kinh doanh trong doanh nghiệp có cổ
phần và những ngời đã góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng
thức quản lý, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
quả, tăng tài sản Nhà nớc, nâng cao thu nhập của ngời lao động, góp
phần tăng trởng kinh tế đất nớc.
Nh vậy một trong những mục đích quan trọng của cổ phần hóa là
để doanh nghiệp thu hút vốn nhàn rỗi trong và ngoài nớc vào hoạt động
sản xuất kinh doanh và đầu t phát triển doanh nghiệp. Một mặt nó sẽ
góp phần tháo gỡ sức áp lực cho ngân sách Nhà nớc, mặt khác doanh
nghiệp cổ phần có điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh, đầu t đổi mới
dây chuyền công nghệ, gắn trách nhiệm với lợi ích của chính ngời lao
động nên sẽ thúc đẩy tăng hiệu quả kinh doanh.
Cổ phần hoá tạo điều kiện cho ngời lao động đợc thật sự làm chủ
doanh nghiệp. Lợi ích của ngời lao động gắn chặt với hiệu quả hoạt
động của chính công ty, do đó ngời lao động làm việc với tinh thần
trách nhiệm cao, làm việc cho chính bản thân mình, bên cạnh đó đòi hỏi
Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc cũng phải thật sự năng động, sáng tạo
trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
Thực hiện cổ phần hóa sẽ khắc phục đợc tình trạng buông lỏng
trong quản lý, tình trạng "vô chủ" của doanh nghiệp, đảm bảo sử dụng
các nguồn lực cho hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả, tăng khả
năng cạnh tranh, đứng vững trên thị trờng. Mặt khác cổ phần hóa doanh
nghiệp Nhà nớc sẽ tạo tiền đề cho thị trờng chứng khoán ở Việt Nam
phát triển, đồng thời góp phần đắc lực vào việc thực hiện chủ trơng
chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Đảng và Nhà nớc.
Nh vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc giúp cho doanh
nghiệp Nhà nớc đổi mới toàn diện cả về phơng thức quản lý, giải pháp
về vốn, công nghệ, sản phẩm, khả năng cạnh tranh, hiệu quả hoạt động
để tồn tại và phát triển theo thời gian, tạo điều kiện thuận lợi để thực
9
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc, hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới.
III- quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà n-
ớc ở Việt Nam - những thành tựu và hạn chế
1. Quá trình thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nớc:
Từ giữa năm 1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng
Chính phủ) đã có quyết định về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp
Nhà nớc thành công ty cổ phần nhng trong thời gian này vẫn cha có
doanh nghiệp Nhà nớc nào thực hiện chuyển đổi.
Ngày 4/3/1993 Thủ trớng Chính phủ đã ra chỉ thị 84/TTg về tiếp
tục thí điểm chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần. Qua
4 năm thực hiện (1992-1996) đã có 5 doanh nghiệp Nhà nớc thành công
ty cổ phần.
Ngày 7/5/1996 Chính phủ ban hành Nghị định số 28/CP để đáp
ứng những đòi hỏi của thực tiễn cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc đạt
ra. Kết quả là cuối năm 1997 chúng ta đã tiến hành cổ phần hoá đợc 13
doanh nghiệp.
Ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định 44/CP về
chuyển doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần. Tính đến cuối
năm 1998 cả nớc đã có 116 doanh nghiệp Nhà nớc chuyển thành công
ty cổ phần.
Ngày 19/6/2002 Chính phủ đã ban hành NĐ64/CP về chuyển
doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần.
Ngày 16/11/2004 Chính phủ ban hành NĐ187/CP về cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nớc.
10
Mới đây chỉ thị 04/2005/TTg của Thủ tớng Chính phủ là hiệu lệnh
tăng tốc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc.
Hiện nay, doanh nghiệp Nhà nớc còn khoảng 5.911 doanh nghiệp,
cả nớc có khoảng 2.500 doanh nghiệp Nhà nớc đợc cổ phần hoá (Số liệu
tính đến đầu năm 2005),riêng năm 2005 dự tính có khoảng gần 800 sẽ
cổ phần hoá, tuy số lợng doanh nghiệp Nhà nớc chuyển sang công ty cổ
phần cha nhiều, thời gian hoạt động còn ít song cổ phần hoá đã khẳng
định đợc vai trò của mình trong nền kinh tế.
2. Những kết quả đạt đợc:
Kết quả điều tra 240 doanh nghiệp sau hơn một năm hoàn thành
việc cổ phần hoá cho thấy nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp tăng
từ 1, 5-2 lần, doanh thu tăng từ 1, 4-1, 5 lần, tổng lợi nhuận thực hiện
tăng hơn 200% thu nhập của ngời lao động tăng 1, 4 đến 2 lần, trong
khi đó lao động đợc tuyển dụng tăng thêm từ 10-20%.
Mục tiêu của cổ phần hóa là huy động thêm vốn trong nớc, đổi
mới phơng thức để quản lý tạo động lực mới cho sự phát triển. Nói riêng
về việc huy động vốn, trong số 771 doanh nghiệp Nhà nớc cổ phần hoá
có giá trị phần vốn Nhà nớc 3.000 tỷ đồng, qua cổ phần hoá đã thu thêm
đợc 2.000 tỷ đồng của các cá nhân, pháp nhân. Đồng thời thông qua
việc bán cổ phiếu, Nhà nớc đã thu thêm hơn 1. 150 tỷ đồng để đầu t và
giải quyết chính sách cho ngời lao động trong doanh nghiệp Nhà nớc
thực hiện cổ phần hoá. Bên cạnh đó phần vốn Nhà nớc tại các doanh
nghiệp cổ phần hoá không mất đi mà lại tăng thêm từ 10-15% so với giá
trị trên sổ sách.
Kết quả sản xuất kinh doanh có lãi hay không đợc chứng minh
bằng việc chia cổ tức hàng quý, hàng tháng. Sau cổ phần hoá, doanh thu
của các công ty cổ phần đều tăng gấp hai lần so với trớc. Điển hình là
công ty Điện lạnh năm 1999 doanh thu 178 tỷ đồng gần gấp 5 lần so với
trớc khi cổ phần hoá. Công ty cổ phần thuỷ sản Hạ Long sau khi hoàn
11
thành cổ phần hoá, doanh số tăng 30% năm. Năm 2001 mặc dù thị trờng
xuất khẩu gặp nhiều khó khăn nhng doanh số của công ty dự kiến vẫn
đạt hơn 130 tỷ đồng. Về lợi tức cổ phần, về vốn, rồi nộp ngân sách đều
tăng so với trớc khi cổ phần, không những thế việc cổ phần hoá còn tạo
thêm việc làm cho ngời lao động.
Khi doanh nghiệp chuẩn bị cổ phần hoá, ngời lao động rất lo lắng
bởi khi doanh nghiệp cổ phần hoá tài sản trong doanh nghiệp không còn
là của Nhà nớc nữa, các ông chủ có thể sa thải công nhân. Nhng thực
chất từ khi cổ phần hoá đến nay cha có công nhân nào bị sa thải. Riêng
công ty cổ phần cơ điện lạnh thành phố Hồ Chí Minh tăng từ 334 ng ời
lên 731 ngời, công ty cổ phần chế biến Long An từ 900 ngời lên 1. 280
ngời.
3. Những hạn chế:
Chủ trơng cổ phần hoá là một trong 4 nội dung đổi mới quản lý
doanh nghiệp Nhà nớc đã đợc triển khai từ giữa năm 1992 theo tinh
thần của quyết định số 202CT-HĐBT. Mặc dù đã đạt đợc một số thành
tựu nhất định nhng vẫn tồn tại nhiều bất cập tiếp tục phải giải quyết.
Rõ ràng là cổ phần hoá đã mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh
nghiệp, Nhà nớc cũng nh ngời lao động nhng tại sao quá trình cổ phần
hoá diễn ra vẫn còn chậm. Theo kế hoạch đặt ra, năm 2005 cả nớc sẽ
phải thực hiện sắp xếp 754 doanh nghiệp.Tuy nhiên, đến hết quý I năm
2005 , cả nớc mới thực hiện sắp xếp đợc 92 doanh nghiệp, trong đó, có
73 doanh nghiệp độc lập và 5 bộ phận doanh nghiệp đợc cổ phần hoá,
bằng 12% kế hoạch năm và cũng chỉ bằng 75% so với cùng kỳ năm
2004. Chúng ta hãy tìm hiểu một số nguyên nhân.
3. 1. Từ phía Nhà nớc và địa phơng:
Một là: Các ngành, các cấp ở Trung ơng và địa phơng cha quán
triệt các quan điểm chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về cổ phần hoá một
số DNNN chuyển sang Công ty cổ phần.
12
Hai là, Công tác chỉ đạo của Nhà nớc còn chậm và lúng túng Nhà
nớc cha có các văn bản đủ tầm cỡ về mặt pháp lý nh luật, pháp lệnh về
cổ phần hoá.
Ba là, một số chính sách chế độ cụ thể đối với các doanh nghiệp
cổ phần hoá cha đủ sức hấp dẫn, không lôi cuốn các doanh nghiệp hăng
hái tiến hành cổ phần hoá.
3. 2. Từ phía ngời lao động:
Mặc dù với kết quả khả quan bớc đầu ở các doanh nghiệp cổ phần
hoá nhng ngời lao động vẫn còn nhiều băn khoăn lo ngại và đây chính
là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tiến trình cổ phần
hoá còn chậm chạp.
Thứ nhất, tệ tham nhũng trong các hoạt động kinh tế vẫn thờng
xuyên xảy ra và ngày càng gia tăng gây thất thoát tiền của tài sản cho
Nhà nớc của doanh nghiệp làm cho ngời lao động cha thực sự tin tởng
vào hệ thống lãnh đạo của doanh nghiệp khi chuyển sang doanh nghiệp
cổ phần.
Thứ hai, ngời lao động không biết lấy tiền đâu để mua cổ phần.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế đời sống của đa số ngời lao động
làm việc trong các DNNN đợc nâng cao, nhng khá nhiều ngời chỉ đủ ăn
cha có tích luỹ về tiền và tài sản.
Thứ ba, do ngời lao động lo lắng về việc làm của họ sau cổ phần
hoá. Liệu sau cổ phần hoá việc làm của họ còn đợc tiếp tục hơn?
Thứ t, do ngời lao động lo lắng đến vấn đề thu nhập sau khi thực
hiện cổ phần hoá ngời lao động rất lo lắng đến việc này bởi nó ảnh hởng
đến đời sống của họ và gia đình.
Tất cả những lo lắng trên của ngời lao động là chính đáng bởi nó
gần gũi, thiết thực với ngời lao động.
3.3. Từ phía doanh nghiệp:
13
Thứ nhất là, vấn đề tài sản và nợ của các DNNN. Việc xác định
giá trị doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn xung quanh vấn đề này.
Thứ hai là, do một số doanh nghiệp cha nhận thức rõ tầm quan
trọng và mục tiêu cổ phần hoá thiếu thống nhất trong chỉ đạo của cấp
uỷ, công đoàn, ban giám đốc, và cán bộ công nhân viên của doanh
nghiệp.
Thứ ba là, nhiều doanh nghiệp cha hình dung hết quy trình cổ
phần hoá, các thủ tục còn quá mới mẻ với họ.
Thứ t là, các doanh nghiệp lo ngại sau khi cổ phần hoá bị "phân
biệt đối xử" mặc dù chủ trơng của Nhà nớc là quyền lợi các thành phần
kinh tế ngang nhau.
3.4. Những nguyên nhân khác:
- Đất nớc ta còn nghèo, lợng tiền tích luỹ trong dân c còn ít các
DNNN phần lớn làm ăn còn kém hiệu quả. Ngời dân cha có thói quen
chịu rủi ro bằng cách đầu t mua cổ phiếu.
- Thị trờng vốn cha phát triển, thị trờng chứng khoán mới đợc
hình thành nên hoạt động cha có hiệu quả cha tạo thuận lợi cho việc
thúc đẩy cổ phần hoá.
- Huy động vốn của toàn xã hội là một mục tiêu chủ yếu của cổ
phần hoá DNNN nhng tỷ lệ cổ phần hóa bán ra ngoài còn quá thấp.
14
Iv- Quy trình chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nớc
thành công ty cổ phần.
Danh nghiệp Nhà nớc chuyển đổi thành công ty cổ phần, đợc thực
hiện theo những bớc sau:
Bớc 1: Chuẩn bị cổ phần hóa
Các bộ, cơ quan ngang bộ cơ quan thuộc Chính phủ (gọi tắt là các
bộ), các Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng (gọi tắt
là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh), các tổng công ty lập danh sách cho doanh
nghiệp Nhà nớc cổ phần hóa từng năm báo cáo Thủ tớng Chính phủ và
gởi cho các doanh nghiệp để thực hiện. Các doanh nghiệp Nhà nớc
trong danh sách cổ phần hóa báo cáo dự kiến danh sách các thành viên
trong Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp lên bộ, Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh, tổng công ty để quy định. Các bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
tổng công ty quyết định thành lập Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp
thuộc quyền quản lý và quyết định từng doanh nghiệp cổ phần hóa trong
từng năm. Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp có trách nhiệm tuyên
truyền, giải thích cho ngời lao động trong doanh nghiệp mình những
chủ trơng chính sách của Chính phủ để tổ chức thực hiện.
Bớc 2: Xây dựng phơng án cổ phần hóa
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp tổ chức kiểm kê tài sản, vật
t tiền vốn, công nợ của doanh nghiệp và dự kiến giá trị thực tế của
doanh nghiệp lên bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tổng công ty.
Các bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tổng công ty phối hợp với cơ
quan quản lý vốn và tài sản Nhà nớc tại doanh nghiệp để xác định về
giá trị thực tế của doanh nghiệp, Bộ tài chính quyết định giá trị doanh
nghiệp có mức vốn Nhà nớc ghi trên sổ kế toán đến thời điểm cổ phần
hóa trên 10 tỷ đồng, nếu từ 10 tỷ đồng trở xuống thì sẽ do bộ, Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh, tổng công ty quyết định.
15
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét