Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Tài liệu Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môi trường pdf


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môi trường pdf": http://123doc.vn/document/1054890-tai-lieu-cong-cu-khoa-hoc-va-ky-thuat-danh-gia-tac-dong-moi-truong-pdf.htm


NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
4
- Phát triển độc canh nếu một phần khu vực này đợc trồng rừng lại
- Tổn thất của các loài củng cố cacbon
- Xói mòn đất
- ảnh hởng đến chất dinh dỡng trong đất và cân bằng chất hữu cơ
- ảnh hởng đến cân bằng nớc
- Gỗ trở nên khan hiếm và nảy sinh tranh chấp về gỗ đốt
- Những địa điểm có tiềm năng về khảo cổ bị phá hoại
Không khí
- Tăng cờng bức xạ không khí gây hiệu ứng nhà kính khiến cho khí hậu bị thay đổi
nghiêm trọng
- Cạn kiệt ôzôn
- Thải chất độc (ma axit)
- Các hạt lơ lửng và bụi
- Tiếng ồn
- Mùi hôi
Nớc sạch:
- Chất thải chứa hàm lợng cao nhu cầu oxy sinh hoá, các chất rắn lơ lửng và clo hữu
cơ đổ ra sông.
- Môi trờng sinh sống của cá bị thay đổi qua việc có thêm nhiều vụn gỗ và biến đổi
dòng chảy, và do hiện tợng lắng đọng nghiêm trọng trong quá trình khai hoang đất
đai và mở rộng khu vực nhà máy.
- Chất thải gây ra sự nhiễm độc mãn tính hay cấp tính đối với toàn bộ sinh vật thuỷ
sinh do các hoá chất gây ra nh sulfate, dioxin, những hợp chất hữu cơ xử lý bằng
clo.
- Khả năng nhiễm bẩn nớc ngầm, nớc uống và nớc tới.
- Chất thải và nhiễm bẩn hoá chất, chất độc thoát từ các bãi chất thải
- Chất thải rắn và nguy hiểm (ví dụ dioxin, vỏ cây, phế thải, bùn cặn)
Nhà máy giấy và bột giấy thải ra sông hơn 25.000 lít nớc thải cho mỗi tấn bột giấy
sấy khô. Lợng nớc thải dự tính sẽ tăng lên cùng với việc mở rộng nhà máy. Hiện nay
chất thải lỏng thờng bao gồm cả chất hữu cơ và vô cơ, cũng nh chất hoà tan và
không hoà tan. Trong khi vài chất hoà tan đợc loại bỏ nh bùn cặn chẳng hạn, thì
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
5
phần lớn lại nhập vào môi trờng nớc nhận vào dới dạng các hạt và chất rắn lơ lửng.
Chất này tạo ra những tấm thảm bằng sợi, làm giảm khả năng xuyên qua của ánh sáng
mặt trời, do đó ảnh hởng đến cả cộng đồng sinh vật ở đáy sông và môi trờng sinh
sống của cá.
Chất thải lỏng của nhà máy cũng chứa đựng những chất hữu cơ xử lý clo. Các quá trình
diệt khuẩn và oxy hoá các chất hoá học dẫn tới sự cạn kiệt oxy hoà tan cần thiết cho
đời sống thuỷ sinh, đồng thời cũng làm tăng nhu cầu ôxi sinh hoá (BOD). Các chất hữu
cơ xử lý clo gồm những halogen hữu cơ dễ hấp thu (AOX) bởi than hoạt tính, ví dụ nh
dioxin và furan, và các hợp chất hữu cơ lắng cặn có thể có tác dụng nh những chất
dinh dỡng. Dioxin có khuynh hớng tích tụ sinh học từ nớc vào mô động vật thuỷ
sinh rồi phát triển theo con đờng sinh học trên dây chuyền chuỗi thực phẩm. Tất cả
các thông số này cùng tác động của chúng lên môi trờng nhận vào sẽ tăng lên cùng
với lợng thải cao hơn đi theo việc mở rộng nhà máy.
Kinh tế - xã hội
- Quyền hởng dụng đất hay quyền quy ớc, nhu cầu c dân theo rừng, các hình thức
sở hữu đất quy ớc và nền nếp canh tác không đợc đáp ứng
- Dân làng phải chuyển đi nơi khác do đánh bắt cá mất mùa
- Có thể có những việc làm mới
- Có thể kích thích phát triển kết cấu hạ tầng và kinh tế địa phơng
Với việc mở rộng xây dựng nhà máy giả định này, tiếng ồn, các hạt bụi phóng ra xung
quanh khiến cho dân làng ở vùng lân cận lo lắng trong thời gian trớc mắt. Rừng bị
khai thác, đờng xá đợc xây dựng và sự vận chuyển, đi lại sẽ nhộn nhịp hơn. Nếu nhà
máy đợc nâng cấp và có tháp lọc khí thì sẽ loại bỏ đợc nhiều loại khí thải trong quá
trình sản xuất.
Trong khi một số ít dân bản địa phấn khởi với khả năng có việc làm mới và đầu t để
cải thiện kết cấu hạ tầng và trờng sở địa phơng, thì dân làng lại lo âu về khả năng
phải chuyển chỗ ở do mất những mảnh đất sinh sống và gỗ đun, cũng nh do tình trạng
lợng cá đánh bắt đợc giảm sút.
Các bớc tiếp theo
Kịch bản về việc mở rộng nhà máy giấy và bột giấy giả định của chúng ta sẽ đợc triển
khai ở những bài học sau khi chúng ta tìm hiểu cặn kẽ sự áp dụng công cụ khoa học
EIA đã đợc chọn.
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
6
bài 2 - giám sát cơ bản
Giám sát cơ bản nhằm xác minh thực trạng môi trờng và cung cấp dữ liệu cơ bản cho
những so sánh trong tơng lai. Giám sát cơ bản rất quan trọng đối với cả việc đánh giá
tác động môi trờng (EIA) lẫn đánh giá
nguy cơ đối với sinh thái (ERA). Giám
sát cơ bản chủ yếu khảo sát những biến
đổi vật lý, hoá học và sinh học trong một
hệ sinh thái. Các chơng trình giám sát
có thể đợc tiến hành trong một thời
gian tơng đối ngắn (tức là không đầy 1
năm) hoặc có thể là chơng trình nhiều
năm để xác định xu hớng mùa và sự
biến đổi của thiên nhiên trong một hệ
sinh thái.
Ví dụ nói trên về nhà máy giấy và bột
giấy giả định sẽ đợc sử dụng xuyên suốt bài này trong việc chi tiết hoá các khía cạnh
của giám sát cơ bản.
Xác định mục tiêu chơng trình
Bớc đầu tiên của bất cứ một chơng trình giám sát cơ bản nào là xác định rõ mục tiêu
chơng trình. Bớc này rất quan trọng và sẽ giúp ích nhiều cho việc thiết kế khảo sát.
Việc xác định mục tiêu chơng trình thờng đòi hỏi phải liên hệ với các cơ quan hữu
trách của chính quyền và những ngời cùng chung quyền lợi trong việc vạch ra và đặt
thứ tự u tiên các mối quan tâm về quản lý. Thông tin này có thể dùng để tinh lọc
chơng trình giám sát và giúp dự tính loại thông tin cần thiết cũng nh những chỉ tiêu
cách dùng thông tin đó trong ra quyết định.
Ví dụ về nhà máy này tạo điều kiện thuận lợi cho thấy sự hình thành các mục tiêu
chơng trình. Trong ví dụ này, giám sát cơ bản để mở rộng nhà máy sẽ đợc lên kế
hoạch cho môi trờng thuỷ sinh. Mục tiêu của chơng trình giám sát cơ bản này sẽ
đợc xác định trên cơ sở tham vấn cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, tốt nhất là thông
tin cho công luận và chắc sẽ là:
Nhằm nêu bật đặc điểm môi trờng thuỷ sinh ở thợng lu và hạ lu nhà máy trớc
khi xây dựng và mở rộng.
Việc thực hiện mục tiêu cụ thể này sẽ cung cấp dữ liệu cơ bản để có thể đem ra so với
dữ liệu thu thập đợc trong khi và sau khi mở rộng nhà máy để xác định bản chất và
mức độ của các tác động đối với môi trờng thuỷ sinh tiếp nhận, sông Mê Công.
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
7
Thiết kế khảo sát
Với các mục tiêu chơng trình giám sát đợc xác định rõ, ta có thể thiết kế một đợt
khảo sát giám sát cơ bản. Thiết kế khảo sát gồm có hai nhiệm vụ chủ chốt: xác định
những địa điểm cần giám sát và chọn những tham biến giám sát. Để thực hiện những
nhiệm vụ đó, nên xem lại các đợt khảo sát trớc cũng tại vùng đó. Đôi khi, dữ liệu hiện
đã có ở tình trạng môi trờng cơ bản, mà không cần lấy thêm mẫu ngoài hiện trờng
nữa. Tuy nhiên, dữ liệu cơ bản thờng rất hạn chế ở các quốc gia ven sông thuộc hạ lu
vực Mê Công, và có thể phải thu thập trớc khi phê duyệt bất cứ một dự án quy mô lớn
nào, nh việc mở rộng nhà máy này chẳng hạn.
Khi thiết kế đợt khảo sát giám sát cơ bản, việc lập kế hoạch đúng đắn có thể làm cho
chơng trình hữu hiệu hơn và tiết kiệm hơn về lâu dài. Nếu không đợc lập kế hoạch
đúng đắn, thì có thể xảy ra tình hình sau đây:
- Các tham biến quan trọng về môi trờng bị bỏ qua
- Dữ liệu không liên quan đến các mục tiêu hoặc trả lời các câu hỏi khảo sát
- Dữ liệu kém chất lợng và do đó không đáng tin cậy
Chọn địa điểm
Cần xem xét một số yếu tố khi chọn những địa điểm lấy mẫu. Địa điểm đó phải dễ xác
định để lấy mẫu nhiều lần cũng nh dễ tiếp cận. Cũng cần chọn những địa điểm bao
hàm các đặc điểm môi trờng sống nh nhau (ví dụ đặc điểm đáy, độ sâu, lu lợng,
màn che phủ bề mặt dòng chảy) để giảm thiểu tính không ổn định tự nhiên giữa các
điểm.
ở những vùng sắp triển khai một dự án, các địa điểm giám sát cơ bản phải nằm trong
cả vùng đối chứng (tức là không bị ảnh hởng) và vùng có thể bị ảnh hởng. Ví dụ,
giám sát cơ bản đối với nhà máy giả định nói trên cần đợc tiến hành tại các trạm ở
phía thợng lu và hạ lu nơi nhà máy đổ chất thải ra sông. Khi chọn những địa điểm ở
thợng và hạ lu này, cần xác định các vùng các dòng nớc thải trộn lẫn vào nhau (tức
là biên độ đứng và biên độ ngang của dòng chảy). Vì hai lẽ:
1. Để đảm bảo rằng các điểm có thể bị ảnh hởng sẽ nằm trong vùng hoà trộn nớc
thải.
2. Để đảm bảo các trạm đối chứng đó nằm ngoài bất cứ vùng có thể bị ảnh hởng nào.
Vùng hoà trộn nớc thải thờng đợc xác định bằng cách dùng một nghiên cứu phác
đồ nhánh đo vùng hoà trộn nớc thải và cho biết đặc điểm của các nhánh tác động.
Các nghiên cứu phác đồ nhánh đợc tiến hành bằng cách đo nồng độ của các chất đánh
dấu (ví dụ những hoá chất hoặc cho thêm thuốc màu) trong dòng nớc thải hoặc qua
những mô hình dự báo. Chất đánh dấu là những chất dễ đo, hoặc là một phần nớc thải
hoặc đợc cho thêm vào và có thể giám sát để đo mức độ thải. Vì nghiên cứu này
không thể thực hiện chừng nào cha hoàn thành việc mở rộng nhà máy, có thể dùng
mô hình dự báo để mô phỏng dòng nớc thải. Các mô hình có thể dựa trên nhánh hiện
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
8
có đã đợc điều tra và công bố cùng với việc tăng lợng nớc thải tơng ứng. Khi đã
biết các đặc tính của vùng hoà trộn nớc thải, vùng khảo sát có thể đợc phân chia
thành các vùng đối chứng và các vùng ảnh hởng.
Các điểm đối chứng cần nằm ở những vùng không chịu ảnh hởng của dòng thải của
nhà máy và chí ít cũng bao gồm một trạm ngay phía thợng lu điểm xả của nhà máy.
Khoảng cách giữa điểm đối chứng và điểm đầu tiên bị ảnh hởng ở hạ lu phải ngắn
nhất để giảm khả năng nhầm lẫn với những chất ô nhiễm của nguồn khác không dính
dáng gì tới nhà máy. Điểm đối chứng không nhất thiết phải đại diện cho tình trạng ban
sơ mà nên là những vùng chịu ảnh hởng ít hoặc bị xáo trộn ít nhất.
Thờng cần có nhiều hơn một điểm đối chứng để đánh giá những ảnh hởng có thể xảy
ra. Có thể có một điểm thứ hai trên cùng đoạn sông này để có thêm thông tin về tính
bất ổn định của thiên nhiên. Những điểm đối chứng khác cũng có thể đợc chọn ở đầu
nguồn sông để có hiểu biết chính xác liệu ở đó có những nguồn gây ô nhiễm khác ở
thợng lu hay không.
Các điểm bị ảnh hởng cũng cần đợc chọn ở những nơi gần và xa vị trí dự án về phía
hạ lu. Dữ liệu của các điểm này dùng để mô tả đặc điểm tình trạng môi trờng hiện
thời và để đánh giá mức độ tác động theo sự mở rộng nhà máy. Các điểm gần hiện
trờng cần nằm ở rìa vùng pha loãng ban đầu bên trong nhánh thải. Vùng pha loãng
ban đầu là vùng kề cận ngay nơi đổ nớc thải của nhà máy bắt đầu chảy vào sông.
Vùng này thờng có đặc điểm là dòng chảy rối và thờng không đợc xa nơi đổ thải
quá 5 đến 50m.
Các địa điểm xa hiện trờng cần nằm đủ xa điểm xả phía hạ lu để cho nớc thải và
nớc sông hoà trộn vào nhau.
Hình 1 cho thấy các trạm giám sát cơ bản đợc chọn cho việc mở rộng nhà máy. Trong
ví dụ này, các mô hình dự báo đợc dùng để dự đoán lợng nớc thải. Cơ sở chọn các
điểm lấy mẫu nh sau:
- Trạm R1 là một trạm đối chứng nằm ở thợng lu nhà máy tại một sông nhánh của
sông Mê Công. Do không có nguồn gây ô nhiễm, nên địa điểm này phản ánh tình
trạng tự nhiên
- Trạm R2 là một trạm đối chứng thứ hai nằm về phía thợng lu không xa nhà máy
và phản ánh tình trạng tự nhiên của dòng sông. Không giống nh điểm R1, điểm
này có thể chịu ảnh hởng của những chất thải khác ở thợng lu (ví dụ các hoạt
động nuôi trồng thuỷ sản, tiêu nớc cho nông nghiệp).
- Trạm FF là một trạm xa hiện trờng cách điểm xả chừng 250 m về phía hạ lu và
phản ánh tác động của nớc thải nhà máy sau khi đã pha loãng và trộn lẫn nớc thải
trong nớc sông.
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
9
Giám sát các tham biến
Do không thể kiểm tra tất cả các thông số hoá học, vật lý và sinh học trong một hệ sinh
thái thì cần tập trung vào một số ít các thông số chủ chốt phản ánh tình trạng cơ bản
chung. Tiêu chuẩn chọn lựa các tham biến bao gồm:
- Tơng ứng với các mục tiêu giám sát
- Độ nhạy và thời gian đáp ứng
- Độ biến thiên
- Những vấn đề thực tiễn (ví dụ dễ đo, chi phí)

Hình 1 Vị trí các trạm lấy mẫu cho nhà máy bột giấy
Các thông số thờng đợc giám sát trong các chơng trình giám sát cơ bản gồm:
- Đất
- Thực vật
- Sinh vật sống ở đáy nớc và côn trùng trên mặt đất
- Chất lợng nớc và chất lắng đọng
- Tài nguyên thuỷ sản
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
10
Trong khi các chơng trình giám sát cơ bản thờng tập trung vào các thông số hoá học
và vật lý, các tham biến sinh học thờng có ích nhiều hơn trong việc mô tả đặc điểm
tình trạng môi trờng. Sinh vật sống thể hiện thống nhất những xáo trộn xảy ra trên
những vùng rộng lớn hơn. Ví dụ, sinh vật sống ở sông có thể cho phép đánh giá ảnh
hởng của các hoạt động trên khắp một lu vực sông. Sinh vật sống ở một vùng cũng
giải đáp hàng loạt ảnh hởng môi trờng gây ra cho con ngời và thiên nhiên, nh
nớc thải độc hại, hiện tợng làm giàu chất dinh dỡng và sự xuống cấp môi trờng
sống. Thêm vào đó, sinh vật sống ở một vùng thờng chỉ ra sự thay đổi môi trờng
nhạy cảm hơn những phân tích về hoá nớc hay bùn cát. Ví dụ, mô sinh học có thể tích
tụ chất gây ô nhiễm ở mức dễ phát hiện hơn ở trong nớc hay bùn cát.
Một chơng trình giám sát cơ bản đối với việc mở rộng nhà máy phải lấy mẫu những
tham biến tìm thấy ở hệ sinh thái thuỷ sinh vì đây là môi trờng tiếp nhận các đe doạ.
Trong khi dùng những tiêu chí nói trên, có thể chọn những tham biến sau đây để mô tả
đặc điểm tình trạng tự nhiên của sông Mê Công: hoá nớc, hoá bùn cát, cộng đồng sinh
vật không xơng sống dới đáy và các tài nguyên thuỷ sản. Cơ sở hợp lý để chọn tham
biến và chọn phơng pháp lấy mẫu sẽ đợc nói rõ ở phần sau.
Hoá nớc
Hoá nớc là một tham biến thờng gặp trong các chơng trình khảo sát thuỷ sinh và
dùng để đo một số thông số nh độ pH, tính dẫn điện, tổng lợng chất rắn lơ lửng
(TSS), chất dinh dỡng, độ cứng và các kim loại. Việc phân tích hoá nớc trong nhà
máy giấy và bột giấy ví dụ cũng có thể bao gồm cả những hợp chất hữu cơ, nh các
axit nhựa và phenol sản sinh ra trong quá trình xử lý bột giấy, cũng nh những thông
số quan trọng khác khi kiểm tra nớc thải nhà máy bột giấy.
Có một số lý do vì sao hoá nớc thờng đợc xem nh là một phần của các chơng
trình giám sát cơ bản. Các mẫu nớc rất dễ thu thập và phân tích và giúp đo chính xác
các chất gây ô nhiễm hoà tan trong một hệ sinh thái thuỷ sinh. Tuy nhiên, hoá nớc
cũng có những thiếu sót. Một trong những nhợc điểm lớn nhất là mỗi mẫu nớc chỉ
nói lên tình trạng chất lợng nớc tại thời điểm lấy mẫu và có thể không đại diện cho
chất lợng nớc trong một giai đoạn dài của môi trờng tiếp nhận.
Hoá bùn cát
Hoá bùn cát cũng thờng đợc đánh giá trong các chơng trình giám sát thuỷ sinh và
chủ yếu đợc tiến hành khi các hoạt động có thể gây xói mòn đất hoặc làm cho các
chất ô nhiễm hoà tan tích tụ lại thành lớp bồi lắng qua thời gian. Tiêu biểu là phân tích
hoá bùn cát bao gồm độ ẩm, cỡ hạt, tổng cacbon hữu cơ (TOC), chất dinh dỡng và các
kim loại.
Phân tích TOC trong lớp bùn cát rất quan trọng trong việc xác định dễ dàng tỉ lệ một
chất ô nhiễm nào đó nhiễm vào sinh vật thuỷ sinh, nhất là trong trờng hợp chất thải
xuất hiện trong một thời gian ngắn. Vài chất ô nhiễm, nh dioxin, dễ gắn kết vào chất
hữu cơ. Lòng sông với tổng cacbon hữu cơ cao là những chỗ trũng thuận lợi cho
những chất nh vậy. Những chất kỵ nớc (ghét nớc) sẽ gắn kết vào lớp bùn cát và,
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
11
qua thời gian có thể bị vùi trong những lớp sau, sẽ làm giảm lợng chất ô nhiễm sinh
học.
Hoá bùn cát là một thành phần quan trọng của chơng trình giám sát cơ bản do một
loạt lý do. Lớp bùn cát tích luỹ ô nhiễm qua thời gian và cho thấy, về lâu dài, sự biến
đổi ở một đoạn sông. Không giống với hoá nớc, hoá bùn cát ít biến đổi hơn và giúp đo
đợc những chất ô nhiễm ít hoà tan nh kim loại và chất hữu cơ.
Cộng đồng động vật không xơng sống dới đáy
Có một lịch sử lâu dài về dùng các động vật không xơng sống dới đáy trong các
chơng trình giám sát cơ bản. Động vật không xơng sống dới đáy là một tham biến
kiểm tra thờng gặp vì nhiều lẽ. Chúng phân bố rộng rãi, khá phong phú, dễ thu thập và
dễ phát hiện. Các động vật không xơng sống dới đáy đa dạng và phong phú rất cần
thiết để duy trì một quần thể thuỷ sinh phong phú mạnh hơn dây chuyền thực phẩm.
Động vật không xơng sống dới đáy nhạy cảm với những biến đổi, giúp đo đợc
chính xác những tác động ở cấp cộng đồng và phản ánh tác động tích luỹ của các tình
trạng đã qua và hiện tại. Động vật không xơng sống dới đáy nói chung ít di chuyển,
do đó tiêu biểu cho một quy mô thích hợp việc giám sát xả chất thải tập trung. Các
mẫu động vật không xơng sống dới đáy có thể đợc đánh giá về chỉ số đa dạng, mức
phong phú trong chủng loại, dồi dào số lợng, độ trội và sự có mặt/vắng mặt của
chủng loại chứa ô nhiễm.
Tài nguyên thuỷ sản
Cá cũng làm một tham biến thờng đợc giám sát ở các chơng trình giám sát cơ bản.
Cá thờng nói chung nhạy cảm với chất ô nhiễm và phản ánh ảnh hởng tới môi trờng
ở nhiều cấp độ (ví dụ cá thể, cộng đồng, quần thể). Cá thờng đợc khảo sát để bổ
sung cho khảo sát động vật không xơng sống dới đáy vì chúng có vòng đời dài hơn
và phản ánh ảnh hởng lâu dài đối với sinh vật thuỷ sinh. Cá cũng cơ động hơn động
vật không xơng sống và do đó cho thêm thông tin về tình trạng hệ sinh thái. Khảo sát
nghề cá ở đoạn sông Mê Công chịu ảnh hởng của nhà máy trên cần bao gồm các mẫu
để xác định những loài cá hay sống tại đoạn sông này, cũng nh chế độ di c của
chúng - thông tin này rất cần thiết trong việc quy hoạch các biện pháp giảm nhẹ đối với
việc mở rộng nhà máy đó. Hơn nữa, do nhà máy đổ nớc thải từ năm 1978 nên cần
kiểm tra mô cá xem có dioxin hay không.
Bên cạnh nhiều lý lẽ tích cực để đa cá vào một chơng trình giám sát cơ bản, cũng có
vài khía cạnh tiêu cực. Việc thu thập mẫu có thể khá tốn kém và mất thời giờ. Thêm
vào đó, quy mô có thể quá rộng không thể giám sát nổi việc xả nớc thải tập trung,
nhất là khi phải giám sát các loài cá rất cơ động (ví dụ khó xác định mối đe doạ tiềm
tàng của lợng nớc thải nhà máy đối với các loài cá cơ động).
Các phơng pháp giám sát cá ở những sông lớn thờng tập trung vào những loài cá
giám sát (ví dụ loài cá giám sát trong vùng khảo sát) có ở cả trạm bị ảnh hởng và trạm
đối chứng. Phải dùng ít ra là hai loài giám sát và ít ra phải có một loại cá ở đáy nh
Pangasianodan gigas (cá da trơn lớn) chẳng hạn. Cần tham vấn một nhà sinh học giàu
kinh nghiệm về các trớc khi chọn loài. Nên tập hợp ít nhất 20 con đực và 20 con cái ở
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
12
mỗi trạm và phân tích những thông số nh độ dài, trọng lợng, tuổi, điều kiện bên
ngoài và khả năng sinh sản.
Các phơng pháp chọn mẫu phải riêng cho từng địa điểm và dựa vào các nguyên tắc
vật lý và sinh học chi phối sự phân bố cá trong sông. Vài phơng pháp lấy mẫu bao
gồm lới giăng, lới vét, lới kéo và câu.
Lới giăng thờng dùng để kiểm kê cá đã biết ở sông, hồ. Lới đợc treo dọc trong
nớc và cá dính vào mắt lới. Cỡ mắt lới chọn ứng với những loài cá và cỡ cá thích
hợp và hạn chế việc bắt thêm những loài và cỡ cá khác ngoài quy định.
Lới vét (lới kéo) có thể dùng lấy mẫu ở chỗ nớc cạn hay môi trờng sống giữa hai
mức nớc dềnh và nớc rút tại chỗ nớc thải đổ vào sông.
Câu cá thì dùng cần câu, ống cuộn, lỡi câu, dây câu, phao, mồi, cách nhử và cần sự
kiên trì. Phơng pháp này dùng để lấy mẫu những loài cá tơng đối ít di chuyển, và có
tính lựa chọn rất cao chỉ nhằm vào loại cá lấy mẫu mà thôi. Tuy nhiên, câu cá rất tốn
sức và tốn thì giờ mà dữ liệu thu đợc thì hạn chế trong sử dụng vì kỹ thuật thiên nhiều
về cỡ cá và loài cá.
Bảo đảm chất lợng - kiểm tra chất lợng - QA/QC
Bảo đảm chất lợng/kiểm tra chất lợng là một thành phần chủ yếu của mọi chơng
trình giám sát cơ bản. Bảo đảm chất lợng (QA) có liên quan tới những thủ tục quản lý
do bên ngoài đòi hỏi, chúng bảo đảm dữ liệu có cơ sở khoa học. Kiểm tra chất lợng
(QC) là một khía cạnh riêng của bảo đảm chất lợng và có liên quan đến những kỹ
thuật đo lờng và đánh giá chất lợng dữ liệu. Bảo đảm chất lợng/kiểm tra chất lợng
chủ yếu là một phơng tiện bảo đảm dữ liệu có chất lợng chấp nhận đợc, từ đó có thể
rút ra kết luận có căn cứ khoa học. Điều này đợc thực hiện qua các thủ tục đảm bảo
chất lợng toàn bộ, nh huấn luyện nhân viên, sử dụng các phơng pháp tiêu chuẩn
hoá, cũng nh các biện pháp kiểm tra chất lợng.
http://elib.ntt.edu.vn
NTTULIB
Công cụ khoa học và kỹ thuật đánh giá tác động môI trờng

Chơng trình đào tạo môi trờng Ban th ký Uỷ hội
13
bài 3 - giám sát ảnh hởng môi trờng
Một chơng trình giám sát ảnh hởng môi trờng (EEM) nhằm đánh giá tác động môi
trờng nhà máy giả định thải nớc thải vào sông qua thời gian. ít nhất, chơng trình
EEM của nhà máy phải nhằm bảo vệ cá, môi trờng sống của cá và việc sử dụng tài
nguyên thuỷ sản. Chơng trình EEM của nhà máy phải có tính thích ứng, nói cách
khác, nó phải đủ linh hoạt để đáp ứng những biến đổi theo thời gian của những tác
động môi trờng tiếp nhận. Nếu cần xem xét một thông số mới để hiểu rõ hơn một tác
động mới tại vùng khảo sát EEM, thì chơng trình phải đa thông số mới đó vào lịch
trình giám sát.
Một chơng trình EEM điển hình bao gồm 2 phần:
1. Yêu cầu thiết kế sơ bộ
2. Chơng trình lấy mẫu - những khảo sát EEM với một thành phần giám sát hiện
trờng và kiểm nghiệm ở phòng thí nghiệm.
Yêu cầu thiết kế sơ bộ
Nhà máy có thể chỉ phải đáp ứng yêu cầu này một lần, trừ khi trong tơng lai có thêm
kế hoạch mở rộng nhà máy nữa. Nếu lợng nớc nớc thải từ quá trình xử lý bột giấy,
vị trí xả hoặc tình trạng môi trờng tiếp nhận không thay đổi đáng kể qua thời gian, thì
thông tin sau đây cần có nh là một phần của đánh giá tác động môi trờng (EIA) cho
dự án mở rộng hiện hành. Thông tin quy định ở giai đoạn thiết kế sơ bộ bao gồm:
- Quy mô khu vực khảo sát, kể cả vùng hoà trộn nớc thải và những địa điểm đối
chứng tiêu biểu
- Mô tả đủ cụ thể môi trờng sống thuỷ sinh tiếp nhận ảnh hởng để chọn những
trạm lấy mẫu loài cá và động vật không xơng sống ở đáy thích hợp.
- Chất lợng và việc sử dụng tài nguyên thuỷ sản tại môi trờng tiếp nhận (ví dụ tình
hình đánh bắt ở địa phơng)
- Thông tin về sự dồi dào tơng đối của cá tại khu vực khảo sát và lựa chọn hai loài
cá giám sát.
- Thông tin về bất cứ những nhân tố gây nhiễu hoặc có thể gây ảnh hởng cần phải
đợc xem xét trong quá trình thiết kế khảo sát và giải đoán kết quả
- Chất lợng nớc thải và mô tả đặc điểm nớc thải.
Mô tả vùng hoà trộn rất quan trọng để đảm bảo các trạm lấy mẫu nằm trong vùng đó,
còn các trạm đối chứng thì ở ngoài xa bất cứ vùng ảnh hởng tiềm tàng nào. ở phần
lớn các đoạn sông tiếp nhận, vùng pha loãng biến đổi tuỳ theo những thay đổi dòng
chảy của sông, mức và khối lợng xả chất thải. Nói chung, vùng hoà trộn nớc thải cần
http://elib.ntt.edu.vn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét