Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn tạicông ty bảo hiểm Hà nội để nghiên cứu


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hoả hoạn tạicông ty bảo hiểm Hà nội để nghiên cứu": http://123doc.vn/document/569711-mot-so-giaiphap-nham-nang-cao-hieu-qua-kinh-doanh-nghiep-vu-bao-hiem-hoa-hoan-taicong-ty-bao-hiem-ha-noi-de-nghien-cuu.htm


lụt, đổ vỡ Tất cả những hiểm hoạ bất khả kháng luôn đe doạ chúng ta và tài
sản của chúng ta vẫn hiện hữu và cũng cha bao giờ bị loại trừ một cách tuyệt
đối. Rủi ro chỉ có thể xử lý hoặc giảm thiểu nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nỗ lực
của xã hội và của mỗi chúng ta. Khi rủi ro xảy ra, trách nhiệm của tất cả chúng
ta là giảm thiểu thiệt hại, phục hồi nhanh nhất mất mát về ổn định cuộc sống,
mang lại sự bình yên và hạnh phúc cho con ngời.
Con ngời sẽ có đợc sự tự tin, thanh thản tâm trí khi đã có bảo hiểm, sẽ đợc
bồi thờng tổn thất, mất mát, hay thực hiện các kế hoạch tài chính của mình.
Tham gia bảo hiểm là thể hiện cuộc sống biết kế hoạch hóa của chúng ta và nó
thực sự cần thiết đối với tất cả chúng ta.
2. Các loại hình bảo hiểm
Căn cứ tính chất hoạt động, bảo hiểm chia thành bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế và bảo hiểm thơng mại.
Bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội do nhà nớc tổ chức và quản lý thống
nhất (bộ Lao động thơng binh xã hội và bộ Y tế ) chịu trách nhiệm.
Bảo hiểm thơng mại do bộ Tài chính quản lý (có nớc do ngân hàng nhà n-
ớc quản lý. Bảo hiểm thơng mại hoạt động kinh doanh, do đó có nhiều tổ chức
của các thành phần kinh tế cùng tham gia; Nhà nớc quản lý hoạt động bảo hiểm
thơng mại thông qua luật, các văn bản pháp quy, các điều lệ; thông qua xét
duyệt hình thành cũng nh giải thể các tổ chức, kiểm tra hoạt động của các tổ
chức có phù hợp với luật pháp điều lệ
Bảo hiểm thơng mại còn đợc gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm kinh
doanh, đợc hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh và việc quản lý các rủi
ro. Manh nha của hoạt động này có từ rất lâu trong lịch sử văn minh nhân loại.
Xã hội ngày càng phát triển với các cuộc cách mạng công nghiệp, đến cuộc
cách mạng thông tin thì bảo hiểm cũng ngày càng khẳng định vai trò của mình
trong mọi hoạt động xã hội của con ngời bởi rủi ro nhiều hơn và các nhu cầu về
an toàn cũng lớn hơn.
Trên thị trờng bảo hiểm thế giới cũng nh Việt Nam hiện nay có rất nhiều
nghiệp vụ (sản phẩm) bảo hiểm khác nhau:
Bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt;
Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu; nội địa.
Bảo hiểm thân tàu;
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu;
Bảo hiểm xe cơ giới;
Bảo hiểm tai nạn con ngời;
Bảo hiểm xây dựng- lắp đặt;
Bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khí;
Bảo hiểm sinh mạng cá nhân ;
Bảo hiểm nhân thọ;
Bảo hiểm cây trồng;
Bảo hiểm chăn nuôi;
Bảo hiểm sắc đẹp;

Các sản phẩm trên đều đợc phân loại theo từng đặc trng riêng. Tuỳ thuộc
vào mục đích nghiên cứu và quản lý nghiệp vụ, sẽ có các tiêu thức khác nhau
đợc lấy làm căn cứ phân loại. Chẳng hạn theo đối tợng bảo hiểm, các nghiệp vụ
bảo hiểm có thể đợc sắp xếp vào các loại: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách
nhiệm dân sự, hay bảo hiểm con ngời.
Với các đặc trng kỹ thuật tơng đối giống nhau, ngời ta có thể ghép bảo
hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự vào trong bảo hiểm thiệt hại.
Trong khi đó bảo hiểm con ngời có thể phân tích thành bảo hiểm con ngời phi
nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ. Cũng căn cứ vào đối tợng đợc bảo hiểm, nhng
có thể sắp xếp các nghiệp vụ bảo hiểm thơng mại thành: bảo hiểm hàng hải,
bảo hiểm phi hàng hải, bảo hiểm trách nhiệm pháp lý, bảo hiểm xe cơ giới
hoặc phân loại thành bảo hiểm nhân thọ hoặc bảo hiểm phi nhân thọ trong đó
bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ về bảo hiểm tài sản, về trách
nhiệm dân sự, và các nghiệp vụ bảo hiểm con ngời phi nhân thọ khác.
a. Bảo hiểm tài sản:
Đây là loại bảo hiểm mà đối tợng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lu
động) của ngời đợc bảo hiểm. Ví dụ nh: bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt,
bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm cho thiệt hại vật chất xe cơ giới, bảo
hiểm cho hàng hoá của chủ hàng trong quá trình vận chuyển
b. Bảo hiểm con ngời
Tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm có đối tợng đợc bảo hiểm là tuổi thọ, tính
mạng, tình trạng sức khoẻ của con ngời hoặc các sự kiện liên quan đến cuộc
sống của con ngời và có ảnh hởng đến cuộc sống của con ngời đợc xếp vào bảo
hiểm con ngời. Đó là các nghiệp vụ bảo hiểm nh: bảo hiểm tai nạn cá nhân, bảo
hiểm sinh mạng, bảo hiểm nằm viện phẫu thuật, bảo hiểm khách du lịch, bảo
hiểm nhân thọ
Đặc điểm chung của các loại bảo hiểm con ngời là khi thanh toán tiền
bảo hiểm nguyên tắc khoán đợc áp dụng. Tức là về nguyên tắc chung, số tiền
chi trả bảo hiểm sẽ dựa vào qui định chủ quan của hợp đồng và số tiền bảo
hiểm đợc thoả thuận khi ký kết hợp đồng chứ không dựa vào thiệt hại thực tế.
Tính mạng con ngời là vô giá, không thể xác định đợc bằng một khoản tiền nào
đấy. Bởi vậy việc thanh toán tiền bảo hiểm trong các trong các nghiệp vụ bảo
hiểm con ngời chỉ mang tính trợ giúp về tài chính khi không may gặp rủi ro.
Trong bảo hiểm con ngời, thuật ngữ chi trả bảo hiểm đợc sử dụng thay thế
cho bồi thờng bảo hiểm trong bảo hiểm thiệt hại.
Tuy nhiên trong các nghiệp vụ bảo hiểm con ngời, các chi phí y tế phát
sinh cũng nằm trong phạm vi đợc bảo hiểm, cho nên thực tế bảo hiểm con ngời
vẫn dựa vào các chi phí thực tế phát sinh để xác định số tiền chi trả và nguyên
tắc bồi thờng cũng đợc áp dụng kết hợp trong loại bảo hiểm này.
Khác với các bảo hiểm tài sản, trong bảo hiểm con ngời mỗi một đối t-
ợng bảo hiểm có thể đồng thời đợc bảo hiểm bằng nhiều hợp đồng với một
hoặc nhiều ngời bảo hiểm khác nhau. Khi có sự cố bảo hiểm, việc trả tiền bảo
hiểm của từng hợp đồng bảo hiểm độc lập nhau. Chẳng hạn anh A mua 2 hợp
đồng bảo hiểm sinh mạng cá nhân với số tiền bảo hiểm là 10 triệu đồng và bảo
hiểm nằm viện phẫu thuật với số tiền bảo hiểm là 5 triệu đồng. Trong một vụ
tai nạn anh bị thơng nặng phải vào viện phẫu thuật sau đó chết. Trong trờng
hợp này ngời thừa kế hợp pháp của anh A sẽ nhận đợc khoản tiền cao nhất bằng
10+5 =15 triệu đồng.
c. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Bên cạnh các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và bảo hiểm con ngời còn có
các nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm nh; bảo hiểm TNDS chủ xe cơ giới, bảo
hiểm TN của chủ thuê lao động, bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm, bảo hiểm
trách nhiệm công cộng Theo luật dân sự, trách nhiệm dân sự của một chủ thể
(nh chủ tài sản, chủ doanh nghiệp, chủ nghề nghiệp ) đợc hiểu là trách nhiệm
phải bồi thờng thiệt hại về tài sản, về con ngời gây ra cho ngời khác do lỗi của
ngời chủ đó. Trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm dân sự trong hợp đồng
và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Thông thờng các dịch vụ bảo hiểm cung
cấp sự bảo đảm cho các trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Vì đối tợng đợc bảo hiểm là phần trách nhiệm dân sự phát sinh của ngời
đợc bảo hiểm đối với ngời bị thiệt hại (một ngời thứ ba khác) nên trong loại
bảo hiểm này ngời đợc bảo hiểm là ngời có trách nhiệm dân sự cần đợc bảo
hiểm và cũng thờng là ngời tham gia bảo hiểm. Còn ngời thụ hởng quyền lợi
bảo hiểm lại là những ngời thứ ba khác. Ngời thứ ba trong bảo hiểm trách
nhiệm dân sự là những ngời có tính mạng, tài sản bị thiệt hại trong sự cố bảo
hiểm và đợc quyền nhận bồi thờng từ ngời bảo hiểm với t cách là ngời thụ h-
ởng. Ngời thứ ba có quan hệ về mặt trách nhiệm dân sự với ngời đợc bảo hiểm
nhng chỉ có mối quan hệ gián tiếp với ngời bảo hiểm.
Mặc dù đối tợng bảo hiểm của lọại này là trừu tợng khi hợp đồng đợc ký
kết. Tuy vậy, trách nhiệm bồi thờng của bảo hiểm vẫn căn cứ vào các thiệt hại
thực tế xảy ra cho ngời thứ ba. Vì vậy bảo hiểm trách nhiệm dân sự cũng đợc
coi là bảo hiểm thiệt hại nh bảo hiểm tài sản và cũng áp dụng một số nguyên
tắc nh : nguyên tắc bồi thờng, nguyên tắc thế quyền hợp pháp.
3. Giới thiệu chung về bảo hiểm hoả hoạn
Bảo hiểm hoả hoạn cũng nh bất kỳ nghiệp vụ bảo hiểm nào khác, cũng
đều ra đời bắt nguồn từ thực tế là con ngời luôn luôn phải vật lộn với rủi ro.
Nhiều loại rủi ro đợc xuất hiện vẫn tồn tại và chi phối cuộc sống của con ngời.
Hơn nữa, sự phát triển của con ngời phần nào đã hạn chế kiểm soát đợc rủi ro
này nhng lại làm tăng mức độ trầm trọng của rủi ro khác hoặc làm phát sinh
nhiều loại rủi ro mới. Chính sự đe doạ trực tiếp của rủi ro mà bảo hiểm hoả
hoạn ra đời nh một tất yếu khách quan.
Vào thời trung đại rồi phục hng, ở Châu Âu vẫn cha có hệ thống phòng
cháy nào hữu hiệu hơn hệ thống sử dụng từ thời các hoàng đế La Mã trị vì.
Phải đến năm 1666, sau khi chứng kiến đám cháy khủng khiếp ở thủ đô
Luân Đôn, ngời dân Anh mới nhận thức đợc tầm quan trọng của của việc thiết
lập hệ thống phòng cháy-chữa cháy và bồi thờng cho ngời bị thiệt hại một cách
hữu hiệu. Đám cháy lớn kéo dài bảy ngày, tám đêm bắt đầu từ chủ nhật
2/9/1666 cho tới ngày 9/9/1666 đã để lại một tổn thất vô cùng to lớn: thiêu hủy
hoàn toàn 13.200 ngôi nhà, 87 nhà thờ trong đó có cả trụ sở của Lloyds và nhà
thờ Saint Paul. Mức độ nghiêm trọng của thảm họa này đã dẫn tới sự ra đời của
công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên tại nớc Anh.
Vào năm 1667 văn phòng bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên đợc thành lập với
tên gọi rất đơn giản The fire office với tiền thân là những ngời lính cứu hỏa
Luân Đôn. Năm 1684, Công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên ra đời lấy tên là
Friendly Society Fire Office, Công ty hoạt động trên nguyên tắc tơng hỗ và
hệ thống chi phí cố định, ngời đợc bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại xảy
ra. Sau đó hàng loạt các công ty bảo hiểm hỏa hoạn khác ra đời ở Anh nh:
Amicable (1696), Sun (1710), Union (1714) và vẫn hoạt động cho đến ngày
nay. Sau công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên ở Anh, bảo hiểm hỏa hoạn mở
rộng sang các nớc khác trên lục địa Châu Âu. Ngay từ năm 1677 tại Hambourg
(Đức) đã thành lập quỹ hỏa hoạn đầu tiên của thành phố.
Trong khoảng 200 năm ra đời và phát triển, bảo hiểm hỏa hoạn đã đáp
ứng đợc nhu cầu khẩn thiết chống lại sức tàn phá của các vụ hỏa hoạn.
Tại Việt Nam, bảo hiểm hỏa hoạn đợc bắt đầu thực hiện từ cuối những
năm 1989. Tuy nhiên, quá trình hoạt động và triển khai hoạt động này chỉ đơn
thuần thực hiện các chức năng kinh doanh của nó. Mãi đến năm 1993 sau khi
có nghị định 100/CP, nghiệp vụ này mới thực sự phát triển ở nớc ta.
Mỗi năm nớc ta xảy ra hàng nghìn vụ làm chết, bị thơng hàng trăm ngời,
thiệt hại về tài sản hàng chục tỷ đồng. Đặc biệt số vụ cháy lớn ngày càng gia
tăng, điển hình nh:
-Cháy chợ Đồng Xuân (14/7/1994) gây thiệt hại gần 140 tỷ đồng. Có
2364 hộ kinh doanh và hàng chục nghìn đại lý, khung chợ bị thiệt hại ngời kinh
doanh lâm vào hoàn cảnh khó khăn do mất hết hàng hóa, tiền của không còn
nơi làm việc.
-Vụ cháy xí nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu Sông Bé (1995) thiệt hại
gần 18 tỷ đồng.
-Vụ cháy xí nghiệp giày An Đình - Hải Phòng (1996) thiệt hại khoảng 1
triệu đô la.
-Vụ cháy kho xăng dầu 131 Thủy Nguyên - Hải Phòng ngày 26/6/1997
gây thiệt hại 31 tỷ đồng.
-Năm 1997 còn một số vụ cháy lớn nh là: Vụ cháy Công ty trách nhiệm
hữu hạn Thái Bình (sản xuất giày Sông Bé) là 6,03 tỷ đồng; vụ cháy tại xí
nghiệp dợc Trà Vinh gần 2 tỷ đồng.
-Những vụ cháy lớn trong năm 2000 có thể kể đến là vụ cháy Công ty
may Hải Sơn với thiệt hại là 7,5 tỷ đồng; vụ cháy Công ty Muraya Việt Nam
với thiệt hại là 6,25 tỷ đồng; vụ cháy ở Công ty TNHH Thịnh Khang với trị giá
6,2 tỷ đồng.
Trớc hết, bảo hiểm hỏa hoạn ra đời đáp ứng đợc nhu cầu cần đợc bảo vệ
của con ngời trớc những rủi ro nh cháy có thể gặp trong cuộc sống. Mặt khác,
giá trị tài sản của con ngời ngày càng tăng, vì vậy rủi ro hỏa hoạn có thể gây
ảnh hởng nghiêm trọng tới cuộc sống và tình trạng tài chính của con ngời. Cho
dù có lạc quan đến đâu thì con ngời cũng không thể thờ ơ với những rủi ro có
thể gây hậu quả nghiêm trọng nh hỏa hoạn. Vì vậy bảo hiểm hỏa hoạn là sự
đảm bảo tài chính chắc chắn nhất đối với tài sản của con ngời.
Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời không những bảo vệ tài sản cho những ngời
tham gia bảo hiểm mà nó còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất xã hội đợc
liên tục, không bị gián đoạn.
Khi tham gia bảo hiểm, các doanh nghiệp còn đợc các công ty bảo hiểm t
vấn về các biện pháp phòng tránh tổn thất, tăng cờng công tác phòng cháy-chữa
cháy và thực hiện chính sách quản lý rủi ro nhằm bảo đảm an toàn cao nhất.
Bên cạnh việc đem lại lợi ích cho các cá nhân và doanh nghiệp, bảo hiểm
hỏa hoạn còn góp phần vào việc ổn định và phát triển nền kinh tế xã hội. Bởi vì
thông qua việc hớng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp an toàn,
các công ty bảo hiểm đã góp phần hạn chế những tổn thất, giúp khách hàng có
điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nh mong muốn. Mặt khác,
một phần không nhỏ nguồn phí bảo hiểm thu đợc từ các nghiệp vụ này đợc các
công ty bảo hiểm đóng góp vào ngân sách Nhà nớc để chính phủ sử dụng vào
các mục đích xã hội khác.
II. Nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn
1. Một số khái niệm cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn
Hợp đồng bảo hiểm là một thỏa ớc đợc ký kết bằng văn bản giữa một bên
là công ty bảo hiểm và một bên là ngời đợc bảo hiểm, trong đó công ty bảo
hiểm cam kết sẽ bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm trong trờng hợp họ phải gánh
chịu những tổn thất về tài chính do các sự cố đã đợc chấp nhận bởi công ty bảo
hiểm, gây ra trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng trên cơ sở công ty bảo hiểm
đã đồng ý và nhận đợc một khoản tiền do ngời đợc bảo hiểm thanh toán (khoản
tiền này gọi là phí bảo hiểm).
Cũng nh các hợp đồng bảo hiểm khác, hợp đồng bảo hiểm cháy cũng có
chung những đặc điểm giống nhau. Song việc ra đời bản quy tắc bảo hiểm cháy
và các rủi ro đặc biệt theo Quyết định số 142/TCQĐ của Bộ Tài Chính trớc kia
và nay là Đơn tiêu chuẩn về bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệtđã có những
sửa đổi, bổ sung nhất định để phù hợp với điều kiện Việt Nam. Theo qui tắc
này, một số khái niệm đợc hiểu nh sau:
- Cháy : là phản ứng hóa học có tỏa nhiệt và phát ra ánh sáng.
- Hỏa hoạn : là cháy xảy ra không kiểm soát đợc ngoài nguồn lửa
chuyên dùng, gây thiệt hại cho tài sản và những ngời xung quanh.
- Thiệt hại : là sự mất mát, hủy hoại hay h hỏng của những tài sản đợc
bảo hiểm tại địa điểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Tổn thất : là toàn bộ thiệt hại về ngời và tài sản bị gây ra do các rủi
ro đợc bảo hiểm.
- Tổn thất toàn bộ thực tế: là tài sản đợc bảo hiểm bị phá hủy hoàn toàn
hoặc nghiêm trọng đến mức không thể phục hồi lại trạng thái ban đầu.
- Tổn thất toàn bộ ớc tính : là tài sản đợc bảo hiểm bị phá hủy hoặc h
hỏng đến mức nếu sửa chữa, phục hồi thì chi phí sửa chữa, phục hồi bằng hoặc
lớn hơn số tiền bảo hiểm.
- Đơn vị rủi ro: là nhóm tài sản tách biệt khỏi nhóm tài sản khác với
khoảng cách không cho phép lửa từ nhóm này lan sang nhóm khác, tuy khoảng
cách gần nhất đảm bảo tối thiểu 10m nếu khoảng cách giữa các ngôi nhà hoặc
nhà kho ngoài trời bằng vật liệu không cháy và 20m đối với các nhà kho ngoài
trời bằng vật liệu dễ cháy. Việc xác định một đơn vị rủi ro một cách chính xác
là cơ sở xác định mức định mức độ rủi ro cũng nh là cơ sở để xác định mức phí.
- Đối tợng bảo hiểm: bao gồm các tài sản là bất động sản, động sản (trừ
phơng tiện giao thông, vật nuôi cây trồng và tài sản đang trong quá trình xây
dựng lắp đặt thuộc loại hình bảo hiểm khác).
Cụ thể đối tợng bảo hiểm bao gồm:
+ Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đa vào sử dụng (trừ đất đai).
+ Máy móc thiết bị phơng tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh.
+ Sản phẩm vật t, hàng hóa dự trữ trong kho.
+ Nguyên vật liệu, sản phẩm làm dở, thành phẩm trên dây chuyền sản
xuất.
+ Các loại tài sản khác
- Giá trị bảo hiểm:
+ Giá trị bảo hiểm nhà cửa vật kiến trúc đợc xác định trên chi phí nguyên
vật liệu và xây lắp tài sản đó trừ khấu hao trong thời gian đã sử dụng. Có thề
dực trên thiết kế và bản dự toán, quyết toán xây dựng ban đầu làm cơ sở hoặc
xác định mới cho từng phần nền móng, sàn nhà, tờng, mái, trang trí nội thất.
+ Giá trị bảo hiểm của bất động sản khác: Máy móc thiết bị đợc xác định
trên hái cả thị trờng chi phí vận chuyển và lắp đặt của loại máy móc thiết bị
cùng chủng loại, công suất, tính năng kỹ thuật, nơi sản xuất hoặc tơng đơng trừ
đi khấu hao đã sử dụng.
+ Giá trị bảo hiểm của vật t hàng hóa đồ dùng trong kho, trong dây
chuyền sản xuất, trong cửa hàng, văn phòng, nhà ở đợc xác định bằng giá trị
bình quân của các loại hàng hóa có mặt trong thời gian bảo hiểm. Các xác định
bằng ớc tính giá trị số d bình quân hoặc số d cao nhất và điều chỉnh theo số d
thực tế của từng tháng hoặc từng qua trong thời gian bảo hiểm. Nếu vật t hàng
mua, mua về để kinh doanh đợc bồi thờng thêm lãi kinh doanh. Lãi kinh doanh
đợc xác định bằng tỷ lệ lãi bình quân của ngời đợc bảo hiểm thu đợc đối với vật
t hàng hóa trớc khi xảy ra tổn thất.
- Số tiền bảo hiểm; là số tiền ngời tham gia bảo hiểm đăng ký với ngời
bảo hiểm trên cơ sở giá trị bảo hiểm, là giới hạn bồi thờng tối đa khi tài sản đợc
bảo hiểm tổn thất toàn bộ. Số tiền bảo hiểm do ngời đợc bảo hiểm yêu cầu nh-
ng phải đợc sự chấp nhận của ngời bảo hiểm, nó có thể bằng, thấp hơn hoặc cao
hơn giá trị bảo hiểm.
- Phí bảo hiểm: là khoản tiền mà ngời tham gia nộp cho công ty bảo
hiểm để bảo hiểm cho những rủi ro mà họ tham gia. Phí bảo hiểm chính là giá
cả của dịch vụ bảo hiểm. Do vậy, việc tính toán mức phí vừa phù hợp với yêu
cầu của khách hàng, vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh có lãi không phải là
đơn giản. Trớc khi đa ra mức phí, công ty bảo hiểm cần cân nhắc kỹ vì đây là
một trong những yếu tố cơ bản để cạnh tranh. Phí bảo hiểm đợc tính theo tỷ lệ
phí bảo hiểm. Tỷ lệ phí tính riêng cho từng loại rủi ro. Đối với rủi ro hỏa hoạn
việc định phí dựa trên các yếu tố sau:
+ Ngành nghề kinh doanh chính của ngời đợc bảo hiểm khi sử dụng
những tài sản đợc bảo hiểm vào kinh doanh.
+ Vị trí địa lý của tài sản.
+ Độ bền vững của nhà xởng vật kiến trúc.
+ Yếu tố sử dụng điện trong khu vực có tài sản đợc bảo hiểm.
+ Tính chất của hàng hóa vật t và cách sắp xếp bảo quản hàng hóa trong
kho.
+Trang thiết bị và đôi ngũ tuần tra phòng chống cháy của ngời đợc bảo
hiểm.
- Thời hạn bảo hiểm: tùy theo yêu cầu của ngời đợc bảo hiểm, công ty
bảo hiểm nhận bảo hiểm trong một năm hoặc bảo hiểm ngắn hạn. Sau khi kết
thúc thời hạn bảo hiểm, ngời đợc bảo hiểm có thể đóng phí tiếp và yêu cầu tái
tục bảo hiểm. Hiệu lực bảo hiểm đợc ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Giám định và bồi thờng tổn thất: khi rủi ro tổn thất xảy ra ngời đợc bảo
hiểm phải gửi thông báo tổn thất và yêu cầu bồi thờng cho ngời bảo hiểm trong
đó có bản kê chi tiết ớc tính giá trị tài sản bị tổn thất, làm cơ sở cho công việc
giám định. Ngời bảo hiểm có thể yêu cầu ngời đợc bảo hiểm cho xem dấu vết
của tài sản bị tổn thất bằng ảnh chụp hoặc tại hiện trờng cũng nh chứng minh
tài sản đó thuộc quyền sở hữu của mình đang sử dụng cho đến trớc khi xảy ra
rủi ro tai nạn.
+ Đối với nhà cửa: cơ sở tính giá trị thiệt hại là chi phí sửa chữa.
+ Đối với máy móc thiết bị và tài sản khác; nếu tổn thất có thể sửa chữa đ-
ợc thì cơ sở tính là chi phí sửa chữa. Nếu không sửa chữa hoặc sửa chữa không
kinh tế thì cơ sở tính là chi phí mua mới trừ đi giá trị khấu ha nếu bảo hiểm
theo giá trị còn lại.
+ Đối với thành phẩm: Cơ sở tính là giá thành sản xuất bao gồm chi phí
nguyên vật liệu, tiền công lao động, khấu hao tài sản cố định, chi phí quản lý,
(nếu giá thành sản xuất cao hơn giá bán thì tính theo giá bán).
+ Đối với thành phẩm: Cơ sở tính là chi phí sản xuất tính đến thời điểm
xảy ra tổn thất.
+ Đối với hàng hóa dự trữ trong kho và hàng hóa ở các cửa hàng: Cơ sở
tính là giá mua(theo hóa đơn mua hàng).
Căn cứ vào thiệt hại, số tiền bồi thờng đợc xác định có tính đến việc áp
dụng các loại quy tức bồi thờng (quy tắc tỷ lệ đối với trờng hợp bảo hiểm dới
giá trị và mức miễn thờng)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét