LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố đà nẵng": http://123doc.vn/document/1055298-hoan-thien-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-doanh-nghiep-co-von-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-tai-thanh-pho-da-nang.htm
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đà Nẵng, rút ra được những thành công,
hạn chế và nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất được phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Đà Nẵng
đến năm 2010.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở địa bàn cấp tỉnh.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà
Nẵng đến năm 2010.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI Ở ĐỊA BÀN CẤP TỈNH
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tìm hiểu, nghiên cứu khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta
thấy có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mỗi khái
niệm đều cố gắng khái quát hoá bản chất và nhấn mạnh đến một khía cạnh nào
đó của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có thể thấy rõ qua một số khái niệm sau:
Theo Synthia Day, Wallace đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp nước
ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là: việc thiết lập hay giành được
quyền sở hữu đáng kể trong một loạt công ty ở nước ngoài hay sự gia tăng
khối lượng của một khoảng đầu tư nước ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu
đáng kể. Khái niệm này nhấn mạnh đến quyền sở hữu.
Ủy ban Liên hợp Quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) định
nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ
trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể
thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước
ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền
kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp,
doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài) [27, tr.465].
Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 được chấp
nhận khá rộng rãi về đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “số vốn đầu tư được thực
hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh
6
tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là có được
tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp” [26, tr.1].
Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài
với đầu tư gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1996) đã nêu: đầu tư trực
tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng
tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định
của Luật này” [1, tr.8]. Năm 2005, Luật đầu tư được điều chỉnh và đã đưa ra
định nghĩa đầu tư nước ngoài như sau: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư
nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để
tiến hành hoạt động đầu tư”. Luật đầu tư năm 2005 không đề cập cụ thể đến
khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư nước ngoài gián tiếp mà chỉ
đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp. Hai khái niệm trên được
hiểu: “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, “đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư
thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ
đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà
nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư”.
Dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng xét về bản chất, đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó người
chủ sở hữu vốn đồng thời là người quản lý và điều hành các hoạt động sử
dụng vốn. Để tham gia trực tiếp vào việc quản lý và điều hành các hoạt động
sử dụng vốn, nhà đầu tư nước ngoài phải có một lượng vốn nhất định và tuân
theo các hình thức đầu tư nhất định do pháp luật nước sở tại quy định.
Nói cách khác, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư nước
ngoài sẽ sử dụng vốn, tài sản, kinh nghiệm, uy tín và nhãn hiệu sản phẩm của
mình để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước sở tại nhằm thu
lợi nhuận và để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định. về thực
7
chất đây là hình thức xuất khẩu vốn, một hình thức cao hơn của xuất khẩu
hàng hoá.
Với những trình bày trên, đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc
trưng sau:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không có những ràng buộc về chính trị,
không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế của nước chủ nhà nhưng có
đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế và là một bộ phận hữu cơ trong cơ
cấu đầu tư của nền kinh tế nước chủ nhà;
- Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, có sự thiết lập quyền sở
hữu về tư bản thực của công ty ở một nước khác; đầu tư trực tiếp nước ngoài
được thực hiện bằng vốn của cá nhân hoặc tập thể do các chủ đầu tư tự quyết
định đầu tư, quyết định sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về các
khoản lỗ, lãi. Đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển gắn liền với sự ra đời và
hoạt động của các công ty xuyên quốc gia;
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có mục tiêu, nhiệm vụ rõ ràng nhằm mở
rộng, chiếm lĩnh thị trường của các công ty xuyên quốc gia và thu về lợi
nhuận tối đa cho nhà đầu tư;
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền
quản lý các nguồn vốn đã được đầu tư. Khác với hình thức đầu tư gián tiếp,
trong đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động
đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hoặc tham gia điều hành
doanh nghiệp liên doanh tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình;
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có kèm theo việc chuyển giao
công nghệ và kỹ năng quản lý. Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước
chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh
nghiệm quản lý Đây là những mục tiêu mà các hình thức đầu tư khác không
giải quyết được;
- Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với sự phát triển của
thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế. Trong hình thức đầu tư
8
trực tiếp nước ngoài, các công ty mẹ thường chuyển giao vốn của mình qua
các công ty chi nhánh. Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài có liên quan chặt
chẽ với dòng lưu chuyển vốn quốc tế, trong đó một công ty ở một nước tạo ra
hoặc mở rộng chi nhánh ở nước khác.
Những đặc trưng trên cho thấy bản chất và những lợi thế nổi bật của
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế của các nước đang phát
triển nói riêng và của nền kinh tế thế giới nói chung. Hiện nay, trong bối
cảnh hầu hết các quốc gia đều hoạt động theo cơ chế thị trường, xu thế khu
vực hóa và toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế đang ngày càng phổ biến và
diễn ra với tốc độ nhanh, khoa học – kỹ thuật, công nghệ đạt đến trình độ
phát triển cao Đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng như một trong
những hình thức hợp tác kinh tế, phương tiện thực hiện phân công lao động
quốc tế, và được xem là một trong các điều kiện quyết định sự phát triển
của nền kinh tế thế giới.
Trong hoạt động FDI, các nhà đầu tư nước ngoài là chủ thể quan trọng
thành lập nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hay còn gọi là doanh
nghiệp FDI) và có thể nói không có FDI tất yếu không có doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là phương
tiện, là cách thức để nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp bỏ vốn và tham gia quản
lý kinh doanh ở một nước khác. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng phổ biến ở nhiều quốc gia trên
thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Đến nay vẫn có nhiều quan niệm
khác nhau về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
- Doanh nghiệp FDI là những pháp nhân mới được thành lập tại nước
nhận đầu tư. Trong đó, các đối tác có quốc tịch khác nhau và bên nước ngoài có
tỷ lệ góp vốn tối thiểu đủ để trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp [10, tr.59].
Quan niệm này nhấn mạnh đến vai trò sáng lập của nhà đầu tư nước ngoài trong
doanh nghiệp FDI.
9
- Doanh nghiệp FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên
nước ngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài. Doanh nghiệp này
hoạt động theo luật pháp của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh
doanh nhằm thu được lợi ích cho tất cả các bên [10, tr.59].
Theo các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước ngoài
sở hữu từ 10% trở lên số cổ phần thường hay quyền bỏ phiếu (đối với doanh
nghiệp có tư cách pháp nhân) hoặc tương đương (đối với doanh nghiệp không
có tư cách pháp nhân) [29, tr.8].
Những quan niệm đã trình bày ở trên cho thấy sự không thống nhất trên
bình diện quốc tế trong quan niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài, do đặc thù của mỗi quốc gia mà có các quy định khác nhau về mô hình
doanh nghiệp cho hoạt động đầu tư nước ngoài.
Ở Việt Nam, đến nay chưa có khái niệm chính thức nào khác về doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài những ghi nhận về doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài được đề cập trong Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 và
Luật đầu tư năm 2005. Tuy nhiên, Luật đầu tư nước ngoài 1996 cũng không đưa
ra khái niệm về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà chỉ thừa nhận doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp
100% vốn đầu tư nước ngoài. Và về mặt pháp lý, cả doanh nghiệp liên doanh và
doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đều hoạt động với tư cách công ty
trách nhiệm hữu hạn.
Như vậy, khác với Luật doanh nghiệp và Luật doanh nghiệp nhà nước
quan tâm đến tiêu chí trách nhiệm của doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) và tiêu chí
nguồn gốc vốn của doanh nghiệp (công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước
khác), thì qui định của Luật đầu tư nước ngoài về doanh nghiệp lại nhấn mạnh
theo tiêu chí tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp.
10
Điều này không phù hợp với thực tiễn về quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp, bởi vì điều mà các bên thứ ba quan tâm ở doanh nghiệp không phải là
nhà đầu tư có tỷ lệ góp vốn bao nhiêu, mà là doanh nghiệp chịu trách nhiệm
về các nghĩa vụ tài sản trước đối tác, trước Nhà nước và các chủ thể khác như
thế nào. Đây chính là điểm hạn chế trước đây của pháp luật đầu tư nước ngoài
ở Việt Nam.
Để khắc phục hạn chế trên, Luật doanh nghiệp 2005 đã phân loại
doanh nghiệp theo tiêu chí cách thức góp vốn và chịu trách nhiệm (công ty
trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư
nhân) mà không phụ thuộc vào nguồn gốc vốn góp (tức là không phân biệt
doanh nghiệp của nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài, của một nhà đầu tư
hay nhiều nhà đầu tư). Luật đầu tư 2005, khi định nghĩa về doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài cũng không còn sử dụng khái niệm doanh nghiệp
100% vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh nữa mà thay vào đó
đã sử dụng khái niệm: “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm
doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu
tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ
phần, sáp nhập, mua lại”. Vậy, theo luật doanh nghiệp 2005 và Luật đầu tư
2005, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh
về bản chất vẫn tồn tại nhưng tên gọi pháp lý của chúng đã thay đổi. Tùy theo
cách thức góp vốn và chịu trách nhiệm trong các doanh nghiệp này, chúng có
thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh hoặc
doanh nghiệp tư nhân.
Qua phân tích ở trên, có thể hiểu: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (hay còn gọi là doanh nghiệp FDI) là một hình thức tổ chức
kinh doanh, trong đó có một bên hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau
cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với
các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế”.
11
1.1.2. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều loại hình,
nhiều cách thức tổ chức hoạt động khác nhau. Do vậy, nhận thức các đặc
điểm hoạt động của các doanh nghiệp này có vai trò quan trọng trong việc
đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước đối với chúng. Doanh nghiệp FDI ở Việt
Nam có các đặc điểm cơ bản sau:
- Doanh nghiệp FDI là những tổ chức kinh doanh có yếu tố quốc tế,
chủ yếu được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, thuộc
một phần sở hữu nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh) hoặc thuộc toàn bộ sở
hữu nước ngoài (doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài). Quá trình thành
lập và vận hành của doanh nghiệp FDI luôn có sự cộng đồng trách nhiệm của
các bên, đại diện cho lợi ích của các quốc gia khác nhau và được các bên lấy
phương châm “cùng có lợi” làm nguyên tắc cơ bản để giải quyết các vấn đề
trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp FDI có sự tham gia quản lý trực tiếp của nước ngoài,
quyền quản lý của các bên phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp. Tuy nhiên, các doanh
nghiệp đều là những pháp nhân Việt Nam, ra đời và hoạt động theo luật pháp
của Nhà nước Việt Nam, đồng thời chịu sự chi phối của nhiều hệ thống pháp
luật (bao gồm luật pháp của các quốc gia xuất thân của các bên và luật pháp
quốc tế);
- Doanh nghiệp FDI thường có phần sở hữu của các công ty đa quốc
gia, nên các quyết định của nó không hoàn toàn phụ thuộc vào khuôn khổ
pháp lý của Việt Nam. Phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài càng cao, thì
hoạt động của doanh nghiệp FDI có thể càng chịu nhiều sự ảnh hưởng của
bên nước ngoài. Mặt khác, xu hướng tự nhiên của doanh nghiệp FDI bao giờ
cũng coi lợi nhuận là mục tiêu duy nhất hàng đầu; trong khi đó, nước chủ nhà
lại quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đến sự phát triển tổng thể
12
nền kinh tế. Do vậy, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài phải dung hòa được hai lợi ích này, phải cho doanh nghiệp FDI
trong khi phục vụ lợi ích của họ cũng đồng thời phải mang lại lợi ích cho bên
Việt Nam nói riêng và Nhà nước Việt Nam nói chung;
- Doanh nghiệp FDI nằm trên lãnh thổ Việt Nam, chịu sự quản lý vĩ
mô, chịu ảnh hưởng của tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nước
Việt Nam trên các phương tiện môi trường sinh thái, môi trường chính trị,
kinh tế - xã hội , đồng thời cũng có tác động trở lại đối với đất nước Việt
Nam, có thể tích cực hoặc tiêu cực, tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động đúng
hay chệch hướng, hiệu quả, hay thua lỗ của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp FDI hoạt động trong một thời hạn nhất định do Chính
phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quyết định đối với từng dự án, thường
không quá 50 năm, trường hợp đặc biệt có thể dài hơn nhưng tối đa không
quá 70 năm. Hết thời hạn qui định, doanh nghiệp FDI phải giải thể hoặc
chuyển cho phía Việt Nam (theo hình thức bồi hoàn hoặc không bồi hoàn).
Như vậy, chế độ sở hữu đối với bên nước ngoài chỉ giới hạn trong thời gian
hoạt động của doanh nghiệp, trừ số doanh nghiệp phải giải thể, khi hết thời
hạn hoạt động những doanh nghiệp FDI đó dù tốt, xấu đều trở thành đơn vị
kinh doanh và sở hữu của phía Việt Nam;
- Doanh nghiệp FDI là nơi gặp gỡ và cọ xát giữa các nền văn hoá khác
nhau, phản ánh sự pha trộn các yếu tố văn hoá của nhiều nước, thể hiện qua
triết lý kinh doanh, tập quán, sự hiểu biết pháp luật, ngôn ngữ, lối sống, thói
quen, lòng tin, thái độ, phong cách ứng xử của các bên tham gia. Văn hoá
kinh doanh của doanh nghiệp FDI tương đối phức tạp, nhiều khi mang sắc
thái chính trị, tôn giáo rõ rệt, làm cho quá trình triển khai và vận hành doanh
nghiệp FDI hết sức phức tạp đòi hỏi Việt Nam phải chuẩn bị đủ các điều kiện
cần thiết để tham gia kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài một cách bình
13
đẳng và đảm bảo hiệu quả, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất những thua
thiệt có thể xẩy ra đối với nước mình;
Doanh nghiệp FDI được coi là loại doanh nghiệp không có cơ quan chủ
quản, cơ quan lãnh đạo cao nhất và có quyền quyết định mọi vấn đề của
doanh nghiệp là Hội đồng quản trị. Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp trước
Hội đồng quản trị. Hoạt động của doanh nghiệp FDI là hoạt động theo luật,
trong khuôn khổ pháp luật và các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam chỉ
thực hiện chức năng quản lý về mặt Nhà nước đối với các hoạt động của loại
hình doanh nghiệp này.
Những đặc điểm trên cho thấy, để có thể tham gia kinh doanh với
các nhà đầu tư nước ngoài một cách bình đẳng, đồng thời các doanh nghiệp
FDI hoạt động đúng định hướng, có hiệu quả cao, phát huy được tác dụng
tích cực đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội ở trong nước, ngăn ngừa và
hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực, những rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình hợp tác đầu tư. Việt Nam phải chuẩn bị đủ các điều
kiện cần thiết như hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, phương thức và
biện pháp quản lý thích hợp.
1.1.3. Tác động kinh tế - xã hội của doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài đến địa bàn tiếp nhận đầu tư
1.1.3.1. Tác động tích cực
Doanh nghiệp FDI góp phần gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, kích
thích các công ty khác tham gia đầu tư vào nước chủ nhà, là một tác nhân để
thu hút vốn ODA; tăng thêm tỷ lệ huy động vốn trong nước; là phương tiện để
tiếp nhận công nghệ hiện đại; tạo thêm nhiều việc làm và học tập kinh nghiệm
quản lý tiên tiến của các nước Cụ thể là:
- Thu hút vốn cho đầu tư phats triển: đối với những địa bàn thiếu vốn,
tích lũy từ nội bộ nền kinh tế thấp (thường là ở các nước đang phát triển) thì
việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, là biện pháp thu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét