Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của việt nam sang thị trường eu


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của việt nam sang thị trường eu": http://123doc.vn/document/1053746-day-manh-hoat-dong-xuat-khau-thuy-san-cua-viet-nam-sang-thi-truong-eu.htm


thống sinh thái, tăng nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp lại vừa tăng thêm
thu nhập cho ngư dân và nông dân. Bên cạnh đó, lao động trong ngành thuỷ
sản không đòi hỏi kỹ thuật và tay nghề cao (chủ yếu là kinh nghiệm và cách
học hỏi nhanh chóng) nên không mất thêm chi phí đào tạo. Thêm vào đó,
đầu tư vào ngành thuỷ sản nhanh chóng đem lại nguồn lợi nhanh do thời
gian quay vòng vốn nhanh mà giá các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu lại cao.
1.1.3. Hoạt động sản xuất hàng thủy sản xuất khẩu mang tính chất
phức tạp
Ngành thuỷ sản mang nặng tính thời vụ. Do đối tượng của sản xuất nuôi
trồng thuỷ sản là các loại động thực vật kinh tế thuỷ sinh nên phải thích ứng
với điều kiện nhất định bên ngoài mới có thể thúc đẩt khả năng sinh trưởng
và phát triển của nó. Các biện pháp kỹ thuật sản xuất nuôi trồng chỉ khi nào
phù hợp quy luật sinh trưởng phát triển và sinh sản của động thực vật mới có
thể đạt được sản lượng cao. Hơn nữa, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản là hoạt
động ngoài trời, giữa các điều kiện tự nhiên như khí hậu, vùng nước và
sinh vật có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến đổi khó
lường. Do đó, tác động không nhỏ tới việc khai thác, chế biến và xuất khẩu
thuỷ sản. Bởi do tính phức tạp và thời vụ ảnh hưởng rất đến khả năng đáp
ứng các hợp đồng cung cấp thuỷ sản lớn và ổn định.
1.1.4. Ngành thuỷ sản là một ngành nghề sản xuất mang tính chuyên
nghiệp hoá
Điều này được thể hiện ở chỗ: kể từ khâu nuôi trồng, sản xuất đến chế
biến và xuất khẩu phải tuân theo một quy trình xuyên suốt đảm bảo tính
đồng bộ và đạt chất lượng cao. Bởi sản phẩm thuỷ sản là những sản phẩm
tươi sống nên đảm bảo tính chuyên biệt cao qua mỗi giai đoạn của quy trình

5
sản xuất. Nếu như sản phẩm của ngành bị hỏng, biến chất thì coi như mất đi
giá trị sử dụng.
1.1.5. Hàng thuỷ sản là mặt hàng được ưa chuộng và có giá trị xuất
khẩu cao
Hàng thuỷ sản là mặt hàng đựơc khắp nơi trên thế giới ưu thích tiêu
dùng. Tại các nước phát triển, người tiêu dùng đặc biệt thích ăn thuỷ sản vì
mặt hàng thuỷ sản đảm bảo tươi sống, bổ dưỡng, cách chế biến nhanh. Các
mặt hàng thuỷ sản chế biến thường có gía bán cao hơn mặt hàng tươi sống,
đem lại giá trị gia tăng nhanh hơn cho nhà xuất khẩu. Vì vậy, mà quốc gia
nào có điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi cho việc nuôi trồng và khai
thác thuỷ sản như Việt Nam thường nhanh chóng đẩy mạnh phát triển ngành
thuỷ sản để tạo kim ngạch xuất khẩu cao và thu ngoại tệ về để phát triển đất
nước.
1.2. Vai trò của ngành thủy sản đối với nền kinh tế Việt Nam
1.2.1.Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
của quốc gia
Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ
sản giai đoạn 1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng. Tính tới
tháng 12/2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 2,5 tỷ USD, ngành
thủy sản chiếm 21% GDP nông - lâm - ngư nghiệp và chiếm hơn 4% GDP
trong nền kinh tế quốc dân (Nguồn: Sở thủy sản Hải Phòng ngày 4/12/2007).
Trong các hoạt động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng.
Sản lượng khai thác hải sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ
tăng bình quân hằng năm khoảng 7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai
đoạn 1996 - 2003) (Nguồn: Tổng cục Thống kê). Nuôi trồng thuỷ sản đang

6
ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất
lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự
chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi
nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp
mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Đến
năm 2003, đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để
nuôi thuỷ sản. Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện tích 580.465
ha. Năm 2006, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đã tăng lên 1.050.000 ha
(Nguồn: Trích Trung Tâm Tin học Bộ Thủy sản ngày 18/1/2006).
Bên cạnh những tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng
mới được xác định có thể sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản như sử dụng vật
liệu chống thấm để xây dựng công trình nuôi trên các vùng đất cát hoang
hoá, chuyển đổi mục đích sử dụng các diện tích trồng lúa, làm muối kém
hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản…Nuôi biển là một hướng mở mới cho
ngành Thuỷ sản, đã có bước khởi động ngoạn mục với các loài tôm hùm, cá
giò, cá mú, cá tráp, trai ngọc,… với các hình thức nuôi lồng, bè. Đồng thời
với sự xuất hiện hàng loạt các trang trại nuôi chuyên canh (hoặc canh tác
tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thuỷ sản làm hạt nhân) chuyển đổi phương
thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang bán thâm canh và thâm canh
đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn.
Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh
tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên
tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm

7
2003 ( Nguồn: Trung Tâm Tin hoc Bộ Thủy sản). Tính tới tháng 9/ 2007, tốc
độ tăng GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3.02%
(Nguồn: www.hoinhap.gov.vn ngày 5/2/2007).
1.2.2.Vai trò của ngành thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ thương
mại quốc tế
Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về mở
rộng quan hệ thương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế giới.
Năm 1996, ngành thuỷ sản mới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước và
vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến năm 2001, quan hệ này đã được mở rộng ra
60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ. Năm
2006, hàng thủy sản của Việt Nam đã có mặt trên 105 quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới ( Nguồn: Trung Tâm Tin học Bộ Thủy sản).
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ
sản đã tạo dựng được uy tín lớn. Những nước công nghiệp phát triển như
Mỹ, Nhật và các nước trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và
thường xuyên của ngành. Năm 2003, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào
bốn thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75%
tổng giá trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh
thổ. Tháng 7/2007, các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là EU, Mỹ,
Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước ASEAN, Trung Quốc- Hồng Kông, Nga
(Nguồn: Trung tâm tin học Bộ Thủy sản).
Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành
thuỷ sản đã góp phần mở ra những còn đường mới và mang lại nhiều bài học

8
kinh nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào
khu vực và thế giới.
1.2.3.Vai trò của ngành thuỷ sản trong an ninh lương thực quốc gia,
tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo:
Thuỷ sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật cho
người dân. Năm 2001, mức tiêu thụ trung bình mặt hàng thuỷ sản của mỗi
người dân Việt Nam là 19,4 kg, cao hơn mức tiêu thụ trung bình sản phẩm
thịt lợn 17,1 kg/người và thịt gia cầm 3,9 kg/người ( Nguồn: Trung Tâm Tin
học Bộ Thủy sản). Cũng giống như một số nước châu Á khác, thu nhập tăng
đã khiến người dân có xu hướng chuyển sang tiêu dùng nhiều hơn mặt hàng
thuỷ sản. Có thể nói ngành thuỷ sản có đóng góp không nhỏ trong việc bảo
đảm an ninh lương thực quốc gia.
Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt việc
làm và thu hút một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các
công đoạn sản xuất, làm giảm sức ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả
nước.
Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thuỷ
sản chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút mọi lực
lượng lao động, tạo nên nguồn thu nhập quan trọng góp phần vào sự nghiệp
xoá đói giảm nghèo. Các hoạt động phục vụ như vá lưới, cung cấp thực
phẩm, tiêu thụ sản phẩm… chủ yếu do lao động nữ thực hiện, đã tạo ra thu
nhập đáng kể, cải thiện vị thế kinh tế của người phụ nữ, đặc biệt là ở các
vùng nông thôn, miền núi. Riêng trong các hoạt động bán lẻ thuỷ sản, nữ
giới chiếm tỉ lệ lên đến 90%.

9
1.3.Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu thuỷ sản
1.3.1. Năng lực sản xuất hàng thuỷ sản của Việt Nam
1.3.1.1. Điều kiện tự nhiên trong việc nuôi trồng và khai thác thuỷ sản
 Điều kiện địa lý:
Việt Nam có diện tích đất liền rộng khoảng trên 330369 km2. Đường bờ
biển của Việt Nam kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên
Giang), đi qua hơn 13 vĩ độ với nhiều vùng sinh thái khác nhau, nhìn ra
Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, Thái Bình Dương ở miền Trung và Vịnh Thái Lan
ở miền Tây Nam Bộ. Diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226 nghìn
km
2
, diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km
2
, gấp 3 lần diện
tích đất liền. Vùng biển Việt Nam thuộc phạm vi ngư trường Trung tây Thái
Bình Dương, có nguồn lợi sinh vật phong phú, đa dạng, là một trong những
ngư trường có trữ lượng hàng đầu trong các vùng biển trên thế giới.
Trong vùng viển có 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn
có dân cư, có nhiều vịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư
trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để
phát triển nuôi biển và xây dựng các khu căn cứ hậu cần nghề cá. Bên cạnh
điều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt
ở trong 2.860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu hecta đất ngập nước, ao hồ,
ruộng trũng, rừng ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu
Long Do đó, Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ
sản trên khắp mọi miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước
ngọt.

10
 Điều kiện tự nhiên
Đối với thủy sản, có nhiều nhân tố khí hậu như: gió, nhiệt độ, không khí,
môi trường nước, chế độ mưa, độ mặn,… đã ảnh hưởng đến điều kiện sống
khả năng sinh sản và sự di trú của đàn cá, do đó sản lượng đánh bắt cá cũng
bị thay đổi theo. Do ảnh hưởng bão, lũ nên các cửa biển không ổn định làm
ảnh hưởng đến môi trường của vùng đầm phá, dẫn đến suy giảm đa dạng
sinh học.
Lũ lụt, nước biển dâng sẽ tác động mạnh đến hệ thống ao hồ nuôi trồng
thủy sản, làm tăng những điều kiện bất lợi cho việc nuôi tôm, cua, cá nước
lợ do bờ đê, đập bị phá vỡ. ENSO là hiện tượng có ảnh hưởng đến nghề cá ở
Việt Nam. Biến đổi khí hậu làm tăng thêm cường độ của hiện tượng này, do
đó cũng sẽ góp phần đáng kể đến sự thay đổi vị trí và mật độ các bãi cá
thông qua cấu trúc các dòng hải lưu và vùng nước trồi, nước trụt.
 Nguồn tài nguyên thủy sản
- Vùng biển Việt Nam được đánh giá là có chủng loại các động thực vật
biển khá đa dạng và phong phú với khoảng 2000 loại cá biển( trong đó có
130 loài có giá trị kinh tế), 1647 loại giáp xác (trong đó có hơn 70 loài tôm
mang lại giá trị kinh tế cao và cho sản lượng khai thác 50-60 nghìn tấn/năm).
Ngoài ra, vùng biển Việt Nam còn có hơn 2500 loài nhiễm thể như mực,
bạch tuộc cho sản lượng khai thác từ 60-70 nghìn tấn/năm. Bên cạnh đó,
Việt Nam không chỉ phong phú với những động thực vật biển có khả năng
mang lại nguồn lợi kinh tế cao mà còn phong phú đa dạng không kém với
những nguồn lợi trong vùng đất liền.
- Nguồn lợi cá nước ngọt bao gồm 554 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228
giống với thành phần giống loài hết sức phong phú

11
- Nguồn lợi cá nước lợ, mặn bao gồm 186 loài chủ yếu với nhiều loài có
giá trị kinh tế cao như: cá song, cá hồng, cá vược, cá măng, cá cam
 Lực lượng lao động trong ngành thuỷ sản
Thực tế cho thấy, nguồn lao động trong ngành thuỷ sản khá dồi dào với
số lượng ngày càng gia tăng và khả năng thu hút mạnh từ nguồn lao động
của quốc gia. Số lao động của ngành thuỷ sản tăng liên tục từ 3,12 triệu
người (năm 1996) lên khoảng 3,8 triệu người năm 2001 kể cả lao động thời
vụ. Như vậy mỗi năm đã tăng thêm 100 nghìn người. Tỷ lệ tăng bình quân
số lao động thường xuyên của ngành thuỷ sản là 2,4%/ năm, cao hơn mức
tăng bình quân của cả nước là 2%/ năm. Riêng lĩnh vực nuôi trồng thủy sản,
năm 2006 đã thu hút 1.400.000 lao động (Nguồn: Trung Tâm tin học Bộ
Thủy sản). Đặc biệt, do việc sản xuất thuộc nhiều lĩnh vực như nuôi trồng,
khai thác chủ yếu là quy mô hộ gia đình nên ngành thuỷ sản trở thành nguồn
thu hút lực lượng lao động đáng kể do kết quả hoạt động sản xuất đem lại
hiệu quả kinh tế cao. Bên cạnh đó, lao động trong ngành thuỷ sản không
ngừng được nâng cao tay nghề, hầu hết lao động trong ngành thuỷ sản đều
thạo nghề và có kinh nghiệm lâu năm.
 Hệ thống cơ sở kỹ thuật
Từ năm 1991 đến nay, đánh dấu những bước phát triển trong việc cung
cấp hệ thống cơ sở kỹ thuật phục vụ cho việc khai thác và đánh bắt thuỷ sản.
Nếu như trong những năm đầu, chúng ta chủ yếu sử dụng những tàu thuyền
thủ công thì hiện nay khối lượng tàu thuyền máy ngày càng được sử dụng
nhiều. Năm 1991, tàu thuyền máy có 44.347 chiếc, chiếm 59,6%; thuyền thủ
công 30.284 chiếc, chiếm 40,4%; đến năm 2003 tổng số thuyền máy là
83.123 chiếc, tổng công suất đã đạt tới 3.497.457 CV, gấp 5 lần so với năm
1991. Số tàu thuyền có công suất cao tăng khá nhanh, năm 1997- thời điểm

12
bắt đầu triển khai chương trình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu đánh bắt xa
bờ, cả nước có khoảng 5.000 tàu đánh cá xa bờ, đến năm 2000 đã có 5.896
chiếc, năm 2003 có 6.258 chiếc. Năm 2004, toàn ngành thuỷ sản Việt Nam
có 85340 tàu thuyền máy chiếm 85% tổng số tàu thuyền các loại với tổng
công suất 4721701 CV trong đó có trên 6075 tàu có công suất 90 CV trở lên.
Tổng số tàu khai thác xa bờ là 6258 chiếc với tổng công suất trên 1 triệu CV.
Do đó, tỷ trọng sản phẩm khai thác xa bờ đã tăng nhanh chóng, năm 2003 đã
đạt 38,8%. Năm 2005, tổng số tàu thuyền khai thác là 90.880 tàu nâng tổng
sản lượng khai thác hải sản lên 1.995.400 tấn ( Nguồn: Báo cáo Tổng kết
hàng năm Bộ Thủy sản).
Thêm nữa, cơ sở dịch vụ cho việc khai thác thuỷ sản trong những năm
gần đây đã có bước phát triển nhanh chóng, đáp ứng được yêu cầu cơ bản
phát triển ngành trong giai đoạn đổi mới. Việc hình thành và xây dựng các
cơ sở dịch vụ phục vụ cho việc khai thác thuỷ sản diễn biến trên 3 lĩnh vực
đó là cơ khí đóng sửa tàu thuyền; bến cảng và dịch vụ cung cấp nguyên vật
liệu; thiết bị và hệ thống tiêu thụ sản phẩm.
1.3.1.2. Năng lực khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản
 Khai thác thuỷ sản
Khai thác thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành
thuỷ sản. Tổng sản lượng khai thác hải sản trong 10 năm qua liên tục tăng.
Năm 1990, tổng sản lượng khai thác mới chỉ đạt 790000 tấn thì đến năm
1997 sản lượng khai thác đã vượt con số 1 triệu tấn, năm 2000, sản lượng
khai thác đạt 1280,6 nghìn tấn, gần gấp đôi sản lượng năm 1990 và kể từ đó
tiếp tục tăng( Trích: Báo cáo Tổng kết hàng năm Bộ Thủy sản).

13
Biểu đồ 1.1 : Tổng sản lượng khai thác thủy sản từ năm 2000-2006
Đơn vị: nghìn tấn
1280.6
1347.8
1380.1
1426.2
923
1995
2001.7
2003
2226.9
2410.9
2536.3
3073.6
3247
3695.9
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tong san luong
thuy san
San luong khai thac
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Thuỷ sản
Tính tới tháng 7/2007, tổng sản lượng của Ngành thủy sản đạt 2.165.485
tấn tăng 6,21% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó sản lượng khai thác tăng
2,21% đạt 1.247.900 tấn ( Nguồn: Trung tâm Tin học Bộ Thủy sản).
 Nuôi trồng thuỷ sản
Nghề nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính
chất tự cấp tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung với
trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thuỷ vực nước ngọt, nước
lợ, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, hài hoà với các
ngành kinh tế khác. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng đều đặn theo các
năm. Cụ thể, năm 1991 diện tích nuôi trồng thuỷ sản mới đạt 520.000 ha,
sản lượng đạt 335.910 tấn, đến năm 1996 diện tích nuôi trồng thuỷ sản là

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét