Thứ Tư, 16 tháng 4, 2014

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở Công ty Dụng cụ cắt và đo lường cơ khí": http://123doc.vn/document/556493-mot-so-bien-phap-nham-nang-cao-hieu-qua-san-xuat-kinh-doanh-o-cong-ty-dung-cu-cat-va-do-luong-co-khi.htm


phí sản xuất đợc các nguồn lực đợc huy động tăng nhanh hơn nhịp độ tăng giá
trị tổng sản lợng thì sao. Hơn nữa, việc chọn năm gốc có ảnh hởng rất lớn đến
kết quả so sánh. Với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta lại có mức hiệu quả khác
nhau của cùng một năm nghiên cứu.
Quan điểm 3: Đây là quan điểm về hiệu quả đợc trình bày trong giáo
trình kinh tế học của P.Samueleson và W.Nordhmas (Viện quan hệ quốc tế - Bộ
ngoại giao xuất bản, bản dịch tiếng Việt năm 1991). Theo quan điểm này thì
"Hiệu quả sản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lợng một loại hàng
hóa mà không cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế
có hiệu quả nằm trên đờng giới hạn khả năng sản xuất của nó"
3
[Xem trang
275]. Nhìn nhận quan điểm này dới giác độ doanh nghiệp thì tình hình sản xuất
kinh doanh có hiệu quả khi nằm trên đờng giới hạn khả năng sản xuất của nó.
Giới hạn khả năng sản xuất của doanh nghiệp đợc xác định bằng giá trị tổng sản
lợng tiềm năng, là giá trị tổng sản lợng cao nhất có thể đạt đợc ứng với tình hình
công nghệ và nhân công nhất định. Theo quan điểm này thì hiệu quả thể hiện ở
sự so sánh mức thực tế và mức "tối đa" về sản lợng. Tỷ lệ so sánh càng gần 1
càng có hiệu quả. Mặt khác ta thấy quan điểm này tuy đã đề cập đến các yếu tố
đầu vào nhng lại đề cập không đầy đủ.
Tóm lại quan điểm này là chính xác, độc đáo nhng nó mang tính chất lý
thuyết thuần tuý, lý tởng, thực tế rất khó đạt đợc.
Quan điểm 4: Quan điểm này cho rằng "Hiệu quả kinh tế nền sản xuất
xã hội là mức độ hữu ích của sản phẩm đợc sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng
của nó chứ không phải là giá trị"
4
[Xem trang 9]. Theo tác giả của quan điểm
này, mức độ thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào các tác dụng vật chất cụ thể chứ
không phải giá trị trừu toựng nào đó. Tuy nhiên quan điểm này gặp phải trở
ngại là khó (nếu không muốn nói là không thể) tính đợc tính hữu ích của sản
phẩm đợc sản xuất ra. Và nếu vậy thì chúng ta không thể so sánh đợc tính hữu
ích giữa các sản phẩm, do đó cũng không đánh giá đợc tính hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh,.
Quan điểm 5: Quan điểm này cho rằng "Hiệu quả kinh tế đợc xác định
bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của đại lợng kết quả và chi phí"
5
[Xem trang
253].
Công thức biểu diễn phạm trù này:
5
H =
C
K


(1)
K: Phần gia tăng của kết quả sản xuất
C: Phần gia tăng của chi phí sản xuất
H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh
Quan điểm này phản ánh hiệu quả cha đầy đủ và trọn vẹn. Nó chỉ đề cập
đến hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng của kinh
doanh sản xuất và phần gia tăng của chi phí sản xuất chứ cha đề cập toàn bộ
phần tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Xét trên quan điểm triết học
Mác Lênin thì mọi sự vật, hiện tợng đều có mỗi quan hệ mật thiết, hữu cơ với
nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ, độc lập. Sản xuất kinh doanh không
nằm ngoài quy luật này, các yếu tố "tăng thêm" giảm đi có liên hệ với các yếu
tố sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp các động tới kết quả sản xuất kinh
doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là kết quả tổng hợp của toàn bộ phần
tham gia vào quá trình sanr xuất kinh doanh. Quan điểm này chỉ đề cập đến
phần tăng thêm trong khái niệm hiệu quả là cha đầy đủ, thiếu chính xác/
Quan điểm 6: Theo quan điểm này "Hiệu quả kinh tế đợc xác định bởi tỷ
số giữa kết quả đạt đợc và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết qủa đó"
6
[Xem trang
253].
Khái niệm chung về hiệu quả kinh tế: "Hiệu quả kinh tế của một hiện t-
ợng (hoặc một quá trình kinh tế) phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực
(nhân tài, vật lực, tiền vốn) để đạt đợc mục tiêu xác định"
7
[Xem trang 9].
Từ khái niệm trên ta có công thức để biểu diễn khái quát phạm trù hiệu
quả sản xuất kinh doanh.
H =
C
K
(2)
H: Hiệu quả sản xuất kinh doanh.
K: Kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
C: Chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh (chi phí bỏ ra để đạt đợc kết
quả K).
Nh vậy ta nhận thấy rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
phản ánh chất lợng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Còn kết
quả của quá trình sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản ánh số l-
6
ợng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Vậy khi xem xét, đánh giá hoạt động
của một doanh nghiệp thì phải quan tâm cả kết quả cũng nh hiệu quả của doanh
nghiệp đó.
Quan điểm này đã đánh giá đợc tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực
ở mọi điều kiện "động" của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện đợc trong sự vận động
và biến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc
vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng.
1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mặt chất lợng của các hoạt động
kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy
móc, tiền, nguyên vật liệu) để đạt đợc mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp.
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự thực hiện
yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian.
Các Mác đã cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan
trọng đặc biệt. Mọi hoạt động của con ngời đều phải tuân theo quản lý đó. Con
ngời tạo ra của cải vật chất bằng sức lao động. Lao động đợc đo lờng bằng thời
gian. Với một mục tiêu nhất định con ngời phải thực hiện trong một thời gian
lao động ít nhất hay nói một cách khác thì trong một thời gian lao động nhất
định kết quả đạt đợc phải cao nhất.
Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải
đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu (thời gian hao phí lao động thấp nhất).
Điều này có nghĩa là với mức chi phí nhất định thì doanh nghiệp phải đạt kết
quả tối đa hoặc ngợc lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu.
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt
động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu
quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Trớc đây trong lý luận cũng
nh thực tiễn đã tồn tại sự nhầm lẫn giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả của
hoạt động sản xuất kinh doanh, khi đó đã coi kết quả là mục tiêu mục đích và
coi hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu. Từ quan niệm
nhầm lẫn đó dẫn đến sự hạn chế trong phơng pháp luận giải quyết vấn đề, đôi
khi ngời ta hay coi đạt đợc kết quả là đạt đợc hiệu quả và rõ ràng điều đó có
nghĩa là không cần chú ý đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đây là quan niệm
sai lầm và cần phải đợc thay đổi.
7
Hiện nay, chúng ta có thể hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt đợc sau một quá trình sản
xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết
của doanh nghiệp có thể là những đại lợng có thể cân, đo, đong đếm đợc nh số
sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận và cũng có thể là các đại l-
ợng chỉ phản ánh mặt chất lợng hoàn toàn có tính chất định tính nh uy tín của
hãng, chất lợng sản phẩm Nh thế kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh
nghiệp. Trong khi đó trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, ngời ta
đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào)
để đánh giá hiệu quả sản kinh doanh. Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh
doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể đợc xác định bằng đơn vị
hiện vật và đơn vị giá trị. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu
quả sản xuất kinh doanh sẽ vấp phải khó khăn là giữa "đầu vào" và "đầu ra"
không có cùng một đơn vị đo lờng, còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đa
các đại lợng khác nhau về cùng một đơn vị đo lờng tiền tệ. Vấn đề đợc đặt ra là
hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu hay phơng tiện của kinh doanh? Trớc
tiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh việc thực hiện mục tiêu của doanh
nghiệp đạt đợc ở trình độ nào. Nhng xem xét hiệu quả kinh tế không chỉ dừng ở
đó mà thông qua đó có thể phân tích, tìm ra các nhân tố cho phép nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Từ đó có thể có các giải pháp nhằm đạt mục tiêu của
doanh nghiệp ở mức độ cao hơn với chi phí về nhân tài, vật lực và tiền vốn ít
hơn. Nh vậy, nhiều lúc ngời ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả nh mục tiêu cần đạt
và trong nhiều trờng hợp khác ngời ta lại sử dụng chúng nh công cụ để nhận
biết khả năng tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả.
2. Đặc điểm của hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một khái niệm phức tạp và khó đánh giá
chính xác. Sở dĩ phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phức tạp và
khó đánh giá chính xác là vì ngay ở khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
đã cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc xacs định bởi mối tơng quan giữa
hai đại lợng là kết quả đạt đợc từ hoạt động sản xuất (doanh nghiệp sản xuất)
hoặc kinh doanh (doanh nghiệp thơng mại, dịch vụ) và chi phí bỏ ra để thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Trong khi cả hai đại lợng kết quả và
chi phí đều khó xác định chính xác.
Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chúng ta thấy hầu nh rất ít khi
các doanh nghiệp xác định đợc chính xác các kết quả mà doanh nghiệp thu đợc
8
ở một thời điểm nào đó do các quá trình tạo ra kết quả diễn ra trong các doanh
nghiệp thờng có sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, Trong nền kinh tế thị tr-
ờng, doanh nghiệp không phải chỉ tạo ra kết quả (sản phẩm, dịch vụ) mà còn
phải bán đợc các kết quả đó và quá trình bán hàng và quá trình tạo ra kết quả
luôn không trùng nhau. Một doanh nghiệp ở một thời điểm nào đó có thể có
nhiều sản phẩm đợc sản xuất ra nhng lại tiêu thụ đợc rất ít, nh thế cha thể nói
doanh nghiệp đã đạt đợc kết quả (mục tiêu). Nếu xét trên góc độ giá trị, đại l-
ợng kết quả của sản xuất kinh doanh không phải là đại lợng đánh giá dễ dàng vì
ngoài các nhân tố ảnh hởng trên, kết quả sản xuất kinh doanh còn chịu ảnh h-
ởng của thớc đo giá trị (đồng tiền với những thay đổi của nó trên thị trờng). Mặt
khác, chính hoạt động của con ngời là luôn nhằm đến và đạt đến kết quả nhất
định, song không phải lúc nào con ngời cũng nắm chắc đợc, biết hết đợc các kết
quả do chính hành động của họ. Nh vậy, phạm trù kết quả là một phạm trù phức
tạp mà không phải lúc nào chúng ta cũng đánh giá đầy đủ đợc nó.
Việc xác định đại lợng chi phí cũng không dễ dàng. Nếu xét trân phơng
diện lý thuyết thì chi phí tính bằng đơn vị hiện vật là chi phí sử dụng tài nguyên,
chi phí "thực" để tạo ra kết quả của doanh nghiệp song điều đó không thể xác
định đợc trong thực tiễn. ở mọi doanh nghiệp, việc kiểm kê, kiểm tra xem đã sử
dụng bao nhiêu đơn vị nguyên nhiên vật liệu mỗi loại cũng không phải lúc nào
cũng tiến hành đợc. Trong khi đó, ở mọi doanh nghiệp lại còn nhiều loại nguồn
lực đầu vào không chỉ liên quan đến một quá trình tạo ra sản phẩm nào đó mà
nó liên quan đến nhiều quá trình kinh doanh khác nhau. Điều này dẫn tới việc
xác định hao phí một cách chính xác vào một quá trình kinh doanh cụ thể gặp
nhiều khó khăn. Nếu xét trên phơng diện giá trị, chi phí kinh doanh thờng đợc
hiểu là giá trị của toàn bộ tài nguyên đã sử dụng trong kinh doanh. Bản thân
việc sử dụng các yếu tố đầu vào dới dạng chi phí sử dụng tài nguyên đã là
không xác định đợc trong tính toán bằng tiền, độ phức tạp và thiếu chính xác
còn lớn hơn nhiều vì nó hàm chứa rất nhiều yếu tố chủ quan của con ngời (chi
phí là hi phí tính toán). Cùng với sự phát triển của khoa học quản trị kinh doanh
con ngời ngày càng đa chi phí tính toán tiếp cận đến gần chi phí kinh tế hơn.
Hơn nữa, không chỉ những chi phí trực tiếp trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp mới đem lại kết quả cho doanh nghiệp, mà còn rất nhiều chi phí
cho hoạt động xã hội nh: Giáo dục, cải tạo môi trờng, sức khoẻ có tác động
không nhỏ tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các chi phí này rất khó
tính toán đợc trong quá trình xem xét hiệu quả kinh tế. Mặt khác, trong thực tế
9
khi ra các quyết định sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp thờng h-
ớng vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên dẫn đến xu hớng chi phí biên cá nhân
(MPC) thấp hơn chi phí biên xã hội (MSC). Điều này dẫn đến sự tách biệt giữa
kết quả và hiệu quả cá biệt xã hội. Để rút ngắn sự tách biệt này, các biện pháp
can thiệp vĩ mô của Nhà nớc là hoàn toàn cần thiết. Cũng cần thấy rằng khi
doanh nghiệp ra quyết định sản xuất kinh doanh theo hớng giảm chi phí biên cá
nhân so với chi phí biên xã hội sẽ tạo ra ảnh hởng ngoại ứng đối với các doanh
nghiệp sản xuất khác cũng nh đối với ngời tiêu dùng và trong nhiều trờng hợp
cũng ảnh hởng trực tiếp đến bản thân doanh nghiệp với t cách là một thành viên
trong đó. Nhiều doanh nghiệp cố tình giảm thiểu chi phí cho việc xử lý chất
thải, gây ô nhiễm môi trờng và sự ô nhiễm ngày một tăng ảnh hởng đến cả khu
vực rộng lớn và cuối cùng dẫn đến việc đóng cửa hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp bằng các biện pháp pháp luật. Nh thế kết quả và hiệu quả đạt đợc
trớc mắt của doanh nghiệp đã dẫn đến không có hiệu quả và thậm chí phi hiệu
quả kinh tế nếu xét trong thời gian dài.
3. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thị
trờng nhất là trong một nền kinh tế mở. Do vậy mà để thấy đợc vai trò của nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế tr-
ớc hết chúng ta nghiên cứu cơ chế thị trờng và hoạt động của doanh nghiệp
trong thị trờng.
Thị trờng là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa. Nó tồn tại một cách
khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan nào. Bởi vì, thị trờng ra đời
và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Ngoài ra,
thị trờng còn có một vai trò quan trọng trong việc điều tiết và lu thông hàng
hóa. Thông qua nó các doanh nghiệp có thể nhận biết đợc sự phân phối các
nguồn lực thông qua hệ thống giá cả trên thị trờng.
Trên thị trờng luôn luôn tồn tại các quy luật vận động của hàng hóa, giá
cả, tiền tệ nh các quy luật thặng d, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh Các
quy luật này tạo thành một hệ thống thống nhất và hệ thống này chính là linh
hồn là cha đẻ của cơ chế thị trờng. Nh vậy, cơ chế thị trởng đợc hình thành bởi
sự tác động tổng hợp của các quy luật trong sản xuất, trong lu thông trên thị tr-
ờng. Thông qua các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trờng cơ chế thị
đờng tác động đến việc điều tiết sản xuất, tiêu dùng, đầu t và làm thay đổi cơ
10
cấu sản phẩm, cơ cấu ngành Nói cách khác cơ chế thị trờng điều tiết quá trình
phân phối, phân phối lại các nguồn trong sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng
nhu cầu xã hội một cách tối u nats.
Tóm lại, sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trờng dẫn đến sự
biểu hiện gần đùng nhu cầu thị trờng của xã hội. Song các doanh nghiệp không
đợc đánh giá quá cao hoặc tuyệt đối hóa vai trò của thị trờng, coi cơ chế thị tr-
ờng là hoàn hảo. Bởi lẽ thị trờng luôn chứa đựng những khuyết tật của nó nh:
Đầu cơ, lừa lọc, độc quyền Do vậy mỗi doanh nghiệp phải xác định đợc cho
mình một phơng thức hoạt động riêng phù hợp với doanh nghiệp. Cụ thể là:
Doanh nghiệp phải xác định cho mình một cơ chế hoạt động trên hai thị
trờng đầu vào và đầu ra để đạt một kết quả cao nhất và kết quả này không
ngừng phát triển nâng cao hiệu quả về mặt chất cũng nh về mặt lợng. Nh vậy,
trong cơ chế của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò đối với
doanh nghiệp.
- Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả kinh tế trong kinh doanh là mục tiêu
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần VII nếu rõ: "Một thành tựu khác về
đổi mới kinh tế là bớc đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc".
Phát triển kinh tế nhiều thành phần phải đảm bảo cho tổng sản phẩm xã
hội c+v+m và thu nhập quốc dân m+v đủ để thỏa mãn 2 yêu cầu sau:
Một là: Bù đắp đầy đủ, kịp thời chi phí về t liệu sản xuất và chi phí lao
động đã hao phí (c+v) trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần.
Hai là: Bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân có đợc một bộ tích lũy quan
trọng để tái sản xuất mở rộng và đáp ứng những nhu cầu của xã hội.
- Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở cơ bản để
đảm bảo tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Sự tồn tại của doanh nghiệp đợc xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp
trên thị trờng trong khi đó lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự có mặt này, đồng
thời là mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp là: Luôn tồn tại, phát triển một
cách vững chắc. Do vậy thu nhập của doanh nghiệp phải không ngừng nâng lên.
Nhng trong điều kiện vốn và các kỹ thuật chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất
11
định thì để tăng lợi nhuận bắt buộc các doanh nghiệp phải tăng hiệu quả sản
xuất kinh doanh. Nh vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện hết sức
quan trọng trong công việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác sự tồn tại của doanh nghiệp đợc xác định bởi sự tạo
ra hàng hóa, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội
đồng thời tạo ra tích lũy cho xã hội. Để thực hiện đợc nh vậy thì mỗi doanh
nghiệp đều phải vơn lên đảm bảo thu nhập, bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong
quá trình hoạt động kinh doanh. Có nh vậy mới đáp ứng đợc nhu cầu tái sản
xuất trong nền kinh tế. Và nh vậy chúng ta buộc phải nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh nh là một tất yếu.
Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là một yêu cầu mang tính chất giản đơn còn
sự phát triển và mở rộng doanh nghiệp lại là một yếu tố quan trọng. Bởi vì sự
phát triển, mở rộng của doanh nghiệp không những đòi hỏi sự tồn tại của doanh
nghiệp mà còn đòi hỏi sự tích lũy đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng
theo đúng quy luật phát triển. Nh vậy để phát triển và mở rộng doanh nghiệp
mục tiêu lúc này không còn là đủ bù đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá trình tái
sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo có tích lũy đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở
rộng và một lẫn nữa nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc nhấn mạnh.
- Thứ ba: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố thúc đẩy
cạnh tranh và sự tiến bộ trong kinh doanh.
Chấp nhận cơ chế thị trờng là chấp nhận sự cạnh tranh. Trong khi thị tr-
ờng ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc
liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này không phải là các mặt hàng mà cạnh tranh cả
chất lợng, giá cả Trong khi mục tiêu chung của các doanh nghiệp đều là phát
triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhng cũng có thể
bóp chết doanh nghiệp trên thị trờng. Do vậy, để tồn tại và phát triển thì các
doanh nghiệp đều phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trờng. Để đợc điều
này thì các doanh nghiệp phải có hàng hóa, dịch vụ có chất lợng tốt, giá cả hợp
lý.
Mặt khác hiệu quả sản xuất kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá
thành, tăng khối lợng hàng hóa bán, chất lợng không ngừng đợc hoàn thiện
nâng cao Nh vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là hiệu quả,
chính là hạt nhân cơ bản của thắng lợi trong cạnh tranh. Và các dạng cạnh tranh
nhau tức là không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.
12
Chính sự nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là con đờng của doanh nghiệp
nâng cao sức cạnh tranh của mình.
II. hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế và phơng pháp tính
toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh ở các
doanh nghiệp.
1. Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Từ công thức định nghĩa về hiệu quả kinh tế, chúng ta thấy khi thiết lập
mối quan hệ tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào có thể cho một dãy giá trị khác nhau.
Vấn đề đợc đặt ra là trong một dãy các giá trị có thể đạt đợc thì giá trị nào phản
ánh tính có hiệu quả (nằm trong miền có hiệu quả), các giá trị nào sẽ phản ánh
tính hiệu quả cao cũng nh những giá trị nào nằm trong miền không đạt hiệu quả
(phi hiệu quả). Chúng ta có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh là
thớc đo, là giới hạn, là căn cứ, là một cái mốc xác định ranh giới có hiệu quả
hay không có hiệu quả về một chỉ tiêu hiệu quả đang xem xét.
Xét trên phơng diện lý thuyết, mặc dù các tác giả đều thừa nhận về bản
chất khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ lợi dụng các yếu
tố sản xuất, song công thức khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng cha
phải là công thức mà các nhà kinh tế thống nhất thừa nhận. Vì vậy, cũng không
có tiêu chuẩn chung cho mọi công thức hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà tiêu
chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh còn phụ thuộc vào mỗi công thức xác định
hiệu quả cụ thể. ở các doanh nghiệp tiêu chuẩn hiệu quả phụ thuộc vào từng chỉ
tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh cụ thể. Chẳng hạn, với những chỉ tiêu hiệu
quả liên quan đến các quyết định lựa chọn kinh tế sử dụng phơng pháp cận biên
ngời ta hay so sánh các chỉ tiêu nh doanh thu biên và chi phí biên với nhau và
tiêu chuẩn hiệu quả là doanh thu biên bằng với chi phí biên (tổng hợp cũng nh
cho từng yếu tố sản xuất). Trong phân tích kinh tế với việc sử dụng các chỉ tiêu
tính toán trung bình có khi lấy mức trung bình của ngành hoặc của kỳ trớc làm
mức hiệu quả so sánh và kết luận tính hiệu quả của doanh nghiệp.
Nh vậy, việc nghiên cứu để đa ra đợc tiêu chuẩn cho mỗi chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh và việc phấn đấu để đạt
đợc tiêu chuẩn đó là công việc hết sức quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của
doanh nghiệp.
2. Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh.
13
Muốn có nhận thức đúng đắn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cần phân tích và đánh giá. Qua đó thấy đợc trình độ quản lý điều kiện
của doanh nghiệp cũng nh đánh giá đợc chất lợng của phơng án kinh doanh mà
doanh nghiệp đã đề ra. Thông qua đó phát hiện ra những u điểm cần phát huy
và những hạn chế, những nguyên nhân ảnh hởng không tốt đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó có thể đa ra những phơng pháp, biện
pháp thông qua các phơng án sử dụng tối u các nguồn lực.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rất phức tạp. Do vậy,
không thể sử dụng một chỉ tiêu để đánh giá mà cần phải đa ra một hệ thống các
chỉ tiêu để đo lờng và đánh giá chính xác, khoa học. Hệ thống chỉ tiêu này phải
đáp ứng đợc các yêu cầu cơ bản sau:
- Thứ nhât: Trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phải có các chỉ tiêu
đánh giá tổng hợp, phản ánh chung tình hình sản xuất kinh doanh, các chỉ tiêu
bộ phận phản ánh hiệu quả kinh doanh từng mặt, từng khâu nh: Lao động, vốn
Các chỉ tiêu bộ phận là cơ sở cho việc tìm ra mặt mạnh, mặt yếu trong quá trình
sử dụng từng yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
- Thứ hai: Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá phải bảo đảm tính hệ thống và
toàn diện, tức là chỉ tiêu hiệu quả phải phán ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh
kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Thứ ba: Hệ thống các chỉ tiêu phán ảnh tình hình trên cơ sở những
nguyên tắc chung của hiệu quả, nghĩa là phản ánh đợc trình độ sử dụng lao
động sống và lao đọng vạt hóa thông qua việc so sánh giữa kết quả và chi phí.
Trong đó có các chỉ tiêu kết quả và chi phí phải có khả năng đo lờng đợc thì
mới có thể so sánh, tính toán đợc theo phơng pháp tính toán cụ thể, thống nhất,
các chỉ tiêu phải có phạm vi áp dụng nhất định phục vụ từng mục đích nhất định
của công tác đánh giá.
- Thứ t: Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo phản ánh đợc tính đặc thù
của từng ngành kinh doanh khác nhau.
2.1. Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp.
Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp phản ánh khái quát và
cho phép kết luận về hiệu quả kinh tế của toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh, phản ánh trình độ lợi dụng tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (t liệu sản xuất, nguyên nhiên vật
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét